Việt Nam tụt hạng về năng lực cạnh tranh toàn cầu

Chia sẻ lên linhhay.com

Theo GS Nguyễn Văn Tuấn (ĐH New South Wales, Úc), báo cáo của UNESCO cho thấy trong giai đoạn 2000-2007, các nhà khoa học VN đăng ký 19 bằng sáng chế ở Mỹ. Như vậy mỗi năm có khoảng hai sáng chế được đăng ký.

Trong khi đó, giai đoạn 2006-2011 VN chỉ có năm bằng sáng chế được đăng ký ở Mỹ, trong đó năm 2011 không có bằng sáng chế nào được đăng ký. Trung bình giai đoạn này mỗi năm chỉ có một bằng sáng chế được đăng ký.

Như vậy, số bằng sáng chế của các nhà khoa học VN liên tục giảm dần.

Những dữ liệu này cho thấy VN đang tụt hạng về năng lực cạnh tranh toàn cầu trên ba tiêu chí: trí tuệ, kinh tế tri thức và đẳng cấp của ĐH.

Trong đó, VN đứng thứ 76/141 quốc gia về khả năng sáng tạo và cách tân trong bảng xếp hạng của Tổ chức Trí tuệ thế giới, 106/146 quốc gia về kinh tế tri thức và không có trường ĐH nào vào top 400 ĐH hàng đầu thế giới.

Các chỉ số này của VN đều thấp hơn khá nhiều so với các nước trong khu vực Đông Nam Á như Singapore, Thái Lan, Malaysia, Philippines và Indonesia.

Theo Minh Giảng (TTO)

Read More...

Doanh nghiệp “ngoại” nở nồi, nội teo tóp

Chia sẻ lên linhhay.com
Doanh nghiệp

Trong khi doanh nghiệp trong nước co cụm, chật vật bươn chải để tồn tại thì các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lại tăng tốc mở rộng sản xuất, nhất là trong lĩnh vực xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Dệt may, da giày, nhựa, cơ khí..., nhiều người cứ ngỡ đó là những ngành VN có thế mạnh do nguồn nhân công rẻ, kỹ thuật đơn giản, thế nhưng thời gian qua kim ngạch xuất khẩu gia tăng chủ yếu rơi vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Chỉ tính riêng việc gia tăng vốn đầu tư trong mười tháng năm 2012, cả nước có 359 lượt dự án FDI đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 3,8 tỉ USD, tăng 12,3% so với cùng kỳ 2011.

Ồ ạt tăng vốn, mở rộng nhà máy

Những ngày này, tại Công ty TNHH Sài Gòn Precision (KCX Linh Trung I, Thủ Đức, TP.HCM, 100% vốn Nhật, hoạt động trong lĩnh vực cơ khí chính xác) hàng ngàn công nhân gấp rút với những đơn hàng mới, lãnh đạo công ty cũng tất bật với chiến lược mở rộng nhà máy sau khi vừa tăng vốn thêm 25 triệu USD.

"Nhu cầu về sản phẩm cơ khí chính xác, kỹ thuật cao khá lớn, vì vậy đợt tăng vốn lần này của chúng tôi nhằm mở rộng nhà máy thêm hai chuyền sản xuất chi tiết của khuôn dập, khuôn ép nhựa trên diện tích 2.500m²" - ông Nguyễn Minh Tuyền, trưởng phòng hành chính quản trị Công ty Sài Gòn Precision, nói. Hiện Precision đã có ba nhà máy với 2.000 công nhân đang hoạt động tại KCX Linh Trung. Khi nhà máy mới đầu tư 25 triệu USD đi vào hoạt động vào tháng 8-2013 sẽ tuyển khoảng 250 công nhân nữa.

Công ty TNHH Nobland VN cũng vừa quyết định tăng vốn thêm 17 triệu USD và triển khai thêm 11.000m² tại KCN Tân Thới Hiệp (Q.12) để mở rộng các chuyền may. Theo ông Lee Ho Young - trưởng phòng nhân sự Nobland, công ty "mẹ" ở Hàn Quốc hiện có công ty sản xuất ở Trung Quốc, Indonesia nhưng so với những nước này, VN có nhiều thuận lợi hơn trong môi trường đầu tư, sản xuất nên đã quyết định mở rộng sản xuất tại VN. Hiện Nobland VN có 72 chuyền may với 5.500 công nhân đang làm việc.

Không chỉ có Nobland VN, các công ty dệt đến từ Trung Quốc và Đài Loan đang "nở nồi" khá nhanh. Ngày 31-10-2012, Công ty dệt Formosa đã công bố tăng vốn đầu tư thêm 30 triệu USD. Hay Công ty cổ phần dệt Texhong (Nhơn Trạch, Đồng Nai) cũng vừa tăng quy mô sản xuất từ 30.000 tấn sản phẩm/năm lên 150.000 tấn sản phẩm/năm, kèm tuyên bố tăng vốn đầu tư từ 80 triệu USD lên 150 triệu USD.

Bà Đặng Thị Phương Dung, phó chủ tịch Hiệp hội Dệt may VN (Vitas), cho biết trong hơn 12 tỉ USD kim ngạch xuất khẩu mười tháng đầu của năm 2012, khối doanh nghiệp FDI ước chiếm khoảng 60% trong tổng kim ngạch xuất khẩu.

Theo Vitas, khối doanh nghiệp FDI đến từ Hàn Quốc hiện đang dẫn đầu về số vốn đầu tư lẫn số doanh nghiệp hoạt động tại VN trong lĩnh vực dệt may, trong đó đầu tư nhiều nhất vẫn nghiêng về ngành may, chứ không đi sâu vào lĩnh vực hạ tầng "khó nuốt" như dệt, nhuộm, kéo sợi... Điều này cũng thể hiện sự "khôn ngoan" trong định hướng đầu tư khi chủ trương "đánh nhanh, rút gọn" nhưng thật sự mang lại lợi nhuận rất cao.

Ông Nguyễn Tấn Phước, phó Ban quản lý các KCX - KCN TP.HCM (Hepza), cho biết các doanh nghiệp nước ngoài hiện có mở rộng đầu tư sản xuất, trong đó nhiều doanh nghiệp da giày, may mặc, lắp ráp điện tử... có xu hướng mở rộng quy mô về các tỉnh.

"Họ có tầm nhìn chiến lược, có năng lực tài chính cực mạnh, có sự linh hoạt trong khả năng điều tiết khu vực sản xuất do kinh doanh theo tính chất toàn cầu, nên việc họ chiếm tỉ trọng lớn trong cán cân xuất khẩu là điều hiển nhiên" - ông Diệp Thành Kiệt, phó chủ tịch Hiệp hội Da giày VN (Lefaso), nhận định.

Với tốc độ tăng trưởng của ngành da giày năm năm gần đây ở mức 12-15%/năm, thì khối doanh nghiệp FDI có mức tăng trưởng đến 16-18%/năm, cao hơn khá nhiều so với tỉ lệ tăng trưởng khiêm tốn 10-12%/năm của khối doanh nghiệp trong nước ở lĩnh vực này.

Doanh nghiệp
Tăng trưởng xuất khẩu của doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước của mười tháng năm 2012 so với những năm trước - Nguồn: Tổng cục Thống kê - Ảnh: Thuận Thắng - Đồ họa: Như Khanh

Cạnh tranh giá, ngầm thâu tóm

Khi Tập đoàn Thép Posco (Hàn Quốc) đưa vào hoạt động nhà máy thép cán nguội công suất 1,2 triệu tấn/năm, có vốn đầu tư 528 triệu USD tại KCN Phú Mỹ (Bà Rịa - Vũng Tàu), đã tạo sự cạnh tranh khốc liệt về chính sách giá đối với các doanh nghiệp sản xuất cùng chủng loại trong nước.

Theo ông Nguyễn Tiến Nghi - phó chủ tịch Hiệp hội Thép VN, do công suất sản xuất lớn, Posco VN hiện chiếm xấp xỉ 50% thị phần thép cán nguội trong nước, đã gây không ít khó khăn cho hai doanh nghiệp trong nước sản xuất là Nhà máy thép Phú Mỹ (thuộc Tổng công ty Thép VN - VNSteel) và Công ty cổ phần thép tấm lá Thống Nhất (VNSteel là cổ đông lớn nhất, chiếm 31,25%).

"Với công nghệ sản xuất hiện đại, tiết kiệm nguyên, nhiên vật liệu ở mức tối ưu, sản phẩm làm ra của các doanh nghiệp FDI có giá bán rất cạnh tranh so với các doanh nghiệp sản xuất thép trong nước, kể cả khối liên doanh, nên thị phần của họ chắc chắn sẽ tiếp tục tăng cao trong thời gian tới" - ông Nghi bình luận.

Không chọn chiến lược cạnh tranh giá bán để gia tăng thị phần, The Nawaplastic Industry (Saraburi) Co. Ltd - công ty chuyên sản xuất và phân phối ống nhựa PVC, do Thai Plastic and Chemicals PCL (TPC) nắm 100% cổ phần - lại chọn cách âm thầm gom cổ phiếu trên sàn của hai "đại gia" ngành nhựa xây dựng lớn nhất trong nước là Công ty cổ phần nhựa Bình Minh (BMP) và Công ty cổ phần nhựa Thiếu Niên Tiền Phong (NTP).

Theo số liệu công bố công khai, hiện Saraburi đang nắm hơn 7 triệu cổ phiếu của BMP (chiếm 20,5%) và khoảng 9,8 triệu cổ phiếu của NTP (chiếm 9,86%), trở thành cổ đông lớn thứ hai tại hai doanh nghiệp này, sau Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước(SCIC). Ai cũng biết Nhựa Tiền Phong chiếm 70% thị trường nhựa xây dựng miền Bắc, trong khi Nhựa Bình Minh chiếm 50% ở miền Nam. Do đó, nếu TPC tiếp tục nâng tỉ lệ sở hữu tại hai công ty này trong thời gian tới thì chắc chắn thị trường nhựa xây dựng sẽ bị doanh nghiệp Thái chi phối.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Lê Quang Doanh - chủ tịch HĐQT BMP - cho hay hiện Saraburi chưa hề có bất kỳ động thái nào cho việc can thiệp vào nội bộ sản xuất, điều hành lẫn quản lý của BMP.

Tuy nhiên, nếu sắp tới tỉ lệ nắm giữ cổ phần của Saraburi tiếp tục tăng lên, "đương nhiên chúng tôi phải chấp nhận. Vì một khi họ đã có ý định thâu tóm, chứ không phải hợp tác cùng phát triển, và mình không đủ năng lực trong việc quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất thì phải chấp nhận để cho họ tham gia tái cấu trúc doanh nghiệp" - ông Doanh thừa nhận.

Đáng chú ý, TPC hiện có 45% cổ phần do Tập đoàn Siam Cement (SCG) của Thái Lan nắm giữ. SCG hiện diện tại khoảng 30 thị trường, trong đó có VN, với hàng trăm công ty con về nhựa, hóa chất, giấy, vật liệu xây dựng, phân phối - vận chuyển và đầu tư tài chính. Tại VN, lĩnh vực nhựa và hóa chất hiện mang lại doanh thu và lợi nhuận lớn nhất cho tập đoàn này. Có thể dự báo, tham vọng của SCG không chỉ dừng lại ở ngành nhựa xây dựng mà còn mở rộng ra nhiều ngành khác và hướng đến một chuỗi trong lĩnh vực xây dựng.

Cơ hội có chờ?

Theo ông Diệp Thành Kiệt, sự bùng nổ đầu tư của các doanh nghiệp FDI thời gian qua gần như là sự tất yếu, đặc biệt trong hai lĩnh vực xuất khẩu then chốt của VN hiện nay là dệt may và da giày. Các doanh nghiệp FDI hiện chiếm 60-70% sản lượng cung ứng giày, quần áo cho các thương hiệu thời trang nổi tiếng thế giới, phần còn lại do các doanh nghiệp trong nước đảm nhận.

Với tầm nhìn chiến lược dài hạn, sở hữu quy trình công nghệ sản xuất cho năng suất lao động cao, kỹ thuật tổ chức, thiết lập hệ thống hạ tầng sản xuất với thiết bị được chuyên môn hóa ở mức cao nhất, các doanh nghiệp FDI đã đón đầu và "chọn các quốc gia mang lại cho họ lợi thế về thuế suất xuất khẩu, hưởng được các chính sách từ những hiệp định thương mại mang lại để đặt nhà máy sản xuất" - ông Kiệt phân tích.

Rõ ràng, cho dù các DN trong nước cũng thấy các cơ hội đang ở phía trước, nhưng với những hạn chế nhất định, trong đó yếu nhất vẫn là tiềm lực vốn, năng lực cạnh tranh kém vì phải gánh chịu lãi suất ngân hàng cao, năng suất lao động vẫn còn thấp nên dư địa phát triển của khối doanh nghiệp FDI trong thời gian tới tiếp tục tăng cao gần như là chắc chắn.

Trong nước co cụm

Trái với cảnh mở rộng nhà xưởng của khối doanh nghiệp nước ngoài, cùng trong một lĩnh vực nhưng các doanh nghiệp trong nước lại phải thu hẹp sản xuất. Tại Nhà máy sản xuất giày da xuất khẩu K (TP.HCM), không khí sản xuất đìu hiu hẳn so với cách đây một năm trước. Từ một doanh nghiệp có tới năm chuyền sản xuất giày dép với hơn 7.000 công nhân, nhưng từ năm ngoái hai chuyền đầu tiên phải dẹp vì thiếu đơn hàng. Đến tháng 8-2012, thêm một chuyền cũng lặng lẽ "lên đường".

"Giờ công ty tôi chỉ còn hai chuyền may hoạt động và công nhân cũng chỉ còn khoảng 2.000 người. Nếu kinh tế tiếp tục khó khăn, lãi suất ngân hàng cứ đà này thì doanh nghiệp chúng tôi còn chết nữa" - ông Đ.V., tổng giám đốc Công ty K, buồn bã nói.

Theo Sở KH-ĐT TP.HCM, tính đến cuối tháng 10-2012, đã có 100 doanh nghiệp FDI tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 691 triệu USD, tăng 174% so với cùng 2011. Trong khi tại Bình Dương đã có 66 dự án FDI tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm khoảng 680 triệu USD, riêng các doanh nghiệp FDI trong các KCN số vốn trên tăng 42% so với cùng kỳ 2011.

Theo Đình Dân - Trần Vũ Nghi

Tuổi trẻ
Read More...

Doanh nghiệp nhà nước thủ đô gánh lỗ hàng trăm tỷ

Chia sẻ lên linhhay.com
Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh làm việc với Hà Nội về Đề án sắp xếp lại DNNN
Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh làm việc với Hà Nội về Đề án sắp xếp lại DNNN

UBND Hà Nội cho biết, có 11 doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ với vốn lũ kế đến cuối năm 2011 là hơn 263 tỷ đồng.

Các doanh nghiệp này thua lỗ là do đầu tư dàn trải (chủ yếu bằng vốn vay), sản phẩm làm ra không phù hợp thị trường…

Chiều qua 15/11, Phó thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh đã làm việc với UBND thành phố Hà nội về tình hình kinh tế xã hội năm 2012 và Đề án sắp xếp, đổi mới Doanh nghiệp nhà nước trực thuộc thành phố giai đoạn 2012 - 2015.

Theo đánh giá của UBND thành phố Hà Nội, năm 2012 kinh tế thủ đô duy trì tăng trưởng nhưng thấp hơn dự báo và mức tăng của các năm trước. Tổng sản phẩm trên địa bàn ước cả năm đạt 8,1%. Ngành công nghiệp xây dựng mức tăng giảm dần qua các quý, tỷ lệ sản phẩm tồn kho ở mức cao.

Nhiều dự án đầu tư xây dựng và khu đô thị trên địa bàn tạm dừng hoặc giãn tiến độ thực hiện do thị trường bất động sản trầm lắng và suy giảm kinh tế. Kết quả thu ngân sách trên địa bàn ước đạt khoảng 128 nghìn tỷ đồng, bằng 87,5% dự toán HĐND thành phố giao.

Đánh giá về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước thuộc thành phố, phó chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Huy Tưởng cho biết, năm 2011 có 108 trên tổng số 126 doanh nghiệp nhà nước kinh doanh có lãi. 11 doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ với lỗ lũy kế đến hết tháng 12 năm 2011 là hơn 263 tỷ đồng.

Các doanh nghiệp có số lỗ lớn là Công ty TNHH một thành viên Haprosimex, Công ty sản xuất công nghiệp và xây lắp; Công ty cổ phần Haprosimex Thăng Long, Công ty TNHH một thành viên Thương mại và đầu tư. Nguyên nhân gây thua lỗ là đầu tư dàn trải chủ yếu bằng nguồn vốn vay, sản phẩm sản xuất ra không phù hợp với nhu cầu thị trường, chi phí nguyên vật liệu cao, tỷ lệ phế phẩm lớn, giá bán không đáp ứng giá thành .

Trên cơ sở phân loại các doanh nghiệp Nhà nước, giai đoạn 2011 - 2015, UBND thành phố xây dựng kế hoạch sắp xếp, chuyển đổi 68 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp. Sau khi thực hiện sắp xếp, thành phố Hà Nội nắm giữ 100% vốn nhà nước tại 19 doanh nghiệp là các công ty TNHH nhà nước một thành viên.

Phát biểu kết luận buổi làm việc, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đề nghị Hà Nội rà soát đánh giá lại tình hình sản xuất kinh doanh, chiến lược phát triển của các doanh nghiệp. Đối với Đề án sắp xếp đổi mới doanh nghiệp trong giai đoạn 2011 - 2015, Phó Thủ tướng đề nghị thành phố tập trung chỉ đạo đến từng doanh nghiệp tái cơ cấu từ khâu tổ chức sản xuất, cơ cấu lại vốn, nợ, rà soát chương trình đầu tư để xây dựng chiến lược phát triển cho từng doanh nghiệp gắn với sắp xếp đổi mới, doanh nghiệp.

Thành phố Hà Nội cần đánh giá sâu hơn về mô hình, phương thức quản lý thế nào cho phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp đặc thù. Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh cho biết, tinh thần chỉ đạo của Chính phủ là đến 2020 cơ bản sắp xếp xong doanh nghiệp Nhà nước.

Chính phủ sẽ duyệt số lượng danh mục doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp đổi mới và thành phố cần căn cứ tình hình thực tế chủ động phân giai đoạn thực hiện cho hiệu quả. Phó thủ tướng lưu ý Hà Nội cần tăng cường công tác quản lý sử dụng đất, nhất là việc sử dụng đất nông lâm trường như thế nào cho hiệu quả.

Theo Quang Phong

Dân trí

Read More...

Kinh tế Hà Nội tăng trưởng gần 8% trong 9 tháng

cafef.vn - 20:46 17-09-2012
Sáng 17/9, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo, tập thể UBND TP đã xem xét báo cáo tình hình thực hiện các nhiệm vụ phát triển KT-XH 9 tháng đầu năm, nhiệm vụ trọng tâm 3 tháng cuối năm 2012.
Kết quả kinh tế tháng 9 và 9 tháng năm 2012 tiếp tục cho thấy, kinh tế Thủ đô có nhiều chuyển biến tích cực. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn TP trong quý III ước đạt 8,5% - cao hơn quý I và quý II (lần lượt là 7,3 và 7,9%), tính chung tăng trưởng 9 tháng đầu năm của TP đạt 7,9%.

Trong đó, dịch vụ tăng 8,9%, công nghiệp - xây dựng tăng 8%, nông - lâm - thủy sản giảm 0,6%. Tổng thu ngân sách 9 tháng đầu năm của TP ước đạt 92.275 tỷ đồng, bằng 63,1% dự toán HĐND TP giao.


Tuy nhiên, trong số 21 sản phẩm công nghiệp chủ lực có tới 15 sản phẩm giảm sản lượng, trong đó có những sản phẩm giảm trên 45%. Xuất khẩu quý III có xu hướng chậm lại. Chỉ số giá tiêu dùng sau khi giảm 2 tháng liên tiếp, sang tháng 8 đã tăng trở lại. Số DN đăng ký kinh doanh giảm đáng kể: 9 tháng đầu năm, chỉ bằng bằng 68% số DN và 54% về số vốn so với cùng kỳ năm 2011.


Cũng trong 9 tháng đầu năm, toàn TP có 730 DN làm thủ tục giải thể và 1.900 DN làm thủ tục ngừng kinh doanh. Trong khi đó, mặc dù đã điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhưng lượng hàng tồn tại kho của các DN vẫn ở mức cao, có ngành hàng lên tới 30%.


Kết luận phiên họp, yêu cầu trong 3 tháng cuối năm 2012, các ngành, các cấp TP phải đảm bảo thực hiện cả 3 mục tiêu: duy trì tăng trưởng, giữ chỉ số giá tiêu dùng dưới 2 con số và bảo đảm an sinh xã hội. Trong đó, đối với sản xuất công nghiệp, cần tập trung vào nhóm giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh, hỗ trợ về thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu.


Bởi xuất khẩu đang đối mặt với khó khăn mới, đó là chính sách bảo vệ hàng hóa nội địa của các nước. Cùng với đó, phải có các biện pháp kỹ thuật, thuế quan để hỗ trợ hàng trong nước; phát huy vai trò cầu nối giữa UBND TP với ngân hàng và DN để tháo gỡ những khó khăn về vốn và lãi suất; tiếp tục có các giải pháp để giải phóng lượng hàng hóa tồn đọng của các DN.


Chủ tịch nhấn mạnh, cần khẩn trương hoàn thành giải ngân vốn đầu tư XDCB và thanh quyết toán đối với các công trình đã hoàn thành; tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa trong đầu tư đối với hạ tầng giao thông, đô thị và môi trường. Đặc biệt, cần triển khai ngay gói hỗ trợ cho đường giao thông nông thôn, phấn đấu trong quý IV/2012 phải cơ bản hoàn thành cứng hóa đường giao thông nông thôn. Chủ tịch cũng yêu cầu cần có chính sách, giải pháp kích cầu tiêu dùng.


Tiếp tục hỗ trợ các DN trong hoạt động bình ổn giá và đưa hàng về các vùng khó khăn. Đồng thời cũng phải có các giải pháp hỗ trợ các DN bán buôn, nhằm mục tiêu Hà Nội là thị trường trung chuyển hàng hóa lớn của cả nước.

Theo Hiền Lương
Read More...

Địa ốc thời giảm giá: Thị trường trong tay người mua?

Tác giả: Nam Phong

(VEF.VN) - Thị trường địa ốc đang sôi lên vì một số dự án căn hộ được chào bán với mức giá giảm mạnh chưa từng thấy. Dường như niềm tin của nhà đầu tư thứ cấp về sự phục hồi của thị trường đã mất hẳn. Mặt bằng giá mới rẻ hơn đang hình thành... Điều này đồng nghĩa với việc qua rồi thời nhà đầu tư thao túng giá, trả thị trường về giá trị thực.

Ôm hàng càng nhiều càng chết

Vào năm 2009, khi thị trường bất động sản bước vào đợt suy giảm, ông chủ của Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) đã gây bất ngờ khi quyết định giảm 30% giá bán căn hộ dự án Hoàng Anh River View. Và hiện tại vẫn là dự án của Hoàng Anh Gia Lai nổ phát pháo đầu tiên trong việc hạ giá căn hộ tới 50%.

Thực chất, việc hạ giá căn hộ lần này tại dự án Hoàng Anh River View là động thái của các nhà đầu tư thứ cấp sau khi ôm hàng mua sỉ căn hộ trong dự án này. Thị trường ngày càng tụt sâu, áp lực về tài chính quá lớn nên các nhà đầu tư này không còn đủ kiên nhẫn ôm hàng nên đã chuyển sang "chơi bài ngửa" với thị trường.

Ông Lê Hùng, Tổng Giám đốc Công ty CP phát triển nhà Hoàng Anh Gia Lai cho biết, năm 2009, Hoàng Anh Gia Lai chào bán dự án Hoàng Anh River View. Trong đợt này có 270 căn bán sỉ cho 3 công ty bất động sản là Đại Tín Á Châu, An Bình Land và Công ty CP Đầu tư và Phát triển Sacom. Trong đó, Công ty Đại Tín Á Châu mua 100 căn, An Bình Land mua 100 căn và Công ty CP đầu tư và Phát triển Sacom mua 70 căn.

Dường như cũng chờ đợi pháo hiệu từ HAGL, một loạt dự án khác trên địa bàn TP.HCM được các nhà đầu tư thứ cấp giảm giá bán cắt lỗ. Đơn cử như Công ty cổ phần dịch vụ Nhịp Cầu Địa Ốc giảm giá bán dự án căn hộ Carina Plaza (Quận 8, TP.HCM) từ mức 15,5 triệu đồng/m2 xuống còn 13,2 triệu đồng/m2.

Cũng trong thời điểm cuối tháng 8, Sacomreal thực hiện tuần giảm giá bán một loạt các dự án như Đại Nam, Mỹ Phước 3, New Sai Gon, Sealinks, Everrich, Carillon, HUD, Biconsi,... với mức giảm từ 4 - 20%.

Đa số dự án giảm giá căn hộ để giải phóng hàng tồn kho, giảm áp ực về vốn, cắt lỗ. Tuy vậy, cũng có nhiều dự án bị đè nặng bởi nợ nần cũng mong thoát khỏi địa ốc càng nhanh càng tốt. Nhiều chủ đầu tư dự án cũng tự thú với khách hàng về tình trạng sức khỏe của mình nên việc đầu tư vào địa ốc không còn được mặn mà.

Cuối tháng 8, hàng trăm khách hàng kéo đến dự án căn hộ Good House Apartments (đường Trương Đình Hội, phường 16, quận 8 - TP.HCM) để yêu cầu Công ty CP Lê Minh M.C bàn giao nhà đúng tiến độ. Khởi công tháng 1/2009, dự kiến bàn giao vào tháng 6/2011, đến tháng 8/2012 công trình vẫn ngổn ngang. Khách hàng đã đóng 85% giá trị căn hộ, tương đương 800-900 triệu đồng mà chưa được bàn giao.

Bà Nguyễn Thị Minh Dung, Giám đốc Công ty CP Lê Minh M.C, cũng nói thẳng: "Chúng tôi không thể nào trả lời chính xác khi nào bàn giao căn hộ vì hiện nay công ty đang gặp khó khăn về tài chính. Chúng tôi sẽ gánh chịu về mặt pháp lý trước pháp luật và nội dung cam kết trước khách hàng. Đối với yêu cầu của khách hàng muốn biết khoản tiền góp mua căn hộ sử dụng ra sao, công ty sẵn sàng thuê kiểm toán độc lập. Còn nếu muốn bàn giao hiện trạng thì phía công ty cũng sẵn sàng bàn giao".

Theo ông Marc Townsend, Tổng Giám đốc của CBRE Việt Nam, thị trường căn hộ sẽ khó hồi phục nhanh. Chu kỳ lạm phát những năm gần đây cho thấy độ trễ từ khi lạm phát và lãi suất giảm xuống còn dưới 10% cho đến khi thị trường căn hộ hồi phục là 6 tháng. Để giải phóng hàng tồn, các chủ đầu tư BĐS đã tỏ rõ động thái thoát nhanh khỏi các dự án và bán càng nhanh càng tốt.

Quyền lực của người mua

Hiện tại, khách mua nhà trên thị trường là người có nhu cầu ở thực sự. Mọi người có nhiều sự lựa chọn về mức giá lẫn thương hiệu, vị trí. Vì vậy, một số doanh nghiệp đã thành công trong việc sớm chuyển hướng đầu tư sang phân khúc nhà giá thấp, diện tích nhỏ.

Ông Nguyễn Văn Đực, Phó giám đốc Công ty địa ốc Đất Lành, chia sẻ: "Đã qua rồi thời các nhà đầu tư thứ cấp thao túng giá thị trường. Canh bạc đầu tư địa ốc của các đối tượng này đã đến hồi thoái trào. Thị trường đã bắt đầu thiết lập một mặt bằng giá mới và thành công cũng bắt đầu đến với những doanh nghiệp biết đón đầu thị trường bằng phân khúc nhà giá rẻ".

Theo ông Đinh Thế Hiển, Giám đốc Viện Nghiên cứu Tin học và Kinh tế ứng dụng, động thái xả hàng cắt lỗ, nhất là những dự án của doanh nghiệp đầu ngành, sẽ tạo một mặt bằng giá mới cho thị trường bất động sản thời gian tới. Vài tháng trước đây, một vài doanh nghiệp cũng giảm giá nhưng với hình thức khuyến mãi hoặc dùng lãi suất ngân hàng để hấp dẫn khách hàng. Nhưng hiện nay doanh nghiệp phải chấp nhận mặt bằng giá mới và công ty nào chủ động được sẽ tăng được sức bán hơn.

Giảm giá căn hộ là xu thế tất yếu. Đây không phải là tín hiệu xấu mà là cơ hội cho nhiều bên giải được bài toán khó. Nhiều trường hợp nhà đầu tư thứ cấp cần tiền, chịu thương lượng hạ 10-15% giá trị căn hộ đã giúp các giao dịch dễ dàng hơn. Giảm giá có thể là giải pháp kích thích tăng thanh khoản cho thị trường trong một số phân khúc có nhu cầu an cư.

Ông Hiển cho biết thêm: "Dù đã xuất hiện một số tín hiệu tích cực bắt đầu từ quý 2 nhưng bất động sản chỉ có thể tan băng cục bộ và vẫn trong giai đoạn khó khăn với mức tiêu thụ thấp. Trong khi đó, giá bất động sản trên thu nhập của người dân còn quá cao so với các nước. Giá sẽ tiếp tục giảm trong giai đoạn cuối năm tại những phân khúc căn hộ và đất nền. Ngoài áp lực về tài chính thì giá căn hộ giảm nhiều cũng cho thấy nhà đầu tư, chủ dự án phần nào "thành thật" hơn. Việc đầu tư địa ốc đã bắt đầu vãn cuộc khi quả bóng giá đang bắt đầu xì hơi."

Read More...

Người dân đang đổ tiền vào đâu?

Người có tiền trong tay dường như không còn bối rối nhiều như thời điểm cách đây hai tháng. Họ đã xác định rõ nên bỏ tiền vào đâu và cũng chẳng còn "kén cá chọn canh".

Tuy nhiên, gửi tiết kiệm, kênh đầu tư mà họ đang chọn, cũng chẳng phải là nơi họ trao gửi toàn bộ tích cóp.

Bán USD gửi đồng

Tháng 5, người gửi tiết kiệm mất 1% lãi suất và 2% trong những ngày đầu tháng 6, chỉ còn

Vốn hoá trên thị trường chứng khoán trong tháng 5 đạt 37 tỉ USD, lớn nhất từ trước tới nay, theo báo cáo của BVSC.

hưởng mức 9%/năm. Trong chín tháng liên tục, lạm phát giảm, ở mức 8,34% so cùng kỳ năm ngoái, thấp nhất kể từ tháng 8/2010. Giá vàng đã giảm 3,17% so với tháng trước, và giảm khoảng 6% so với đầu năm. Với mức giá "lờn vờn" 41 – 42 triệu trong hai tháng nay, người có tiền đang chờ vàng giảm thêm để mua vào.

Sau hơn bốn tháng ổn định, đồng USD vừa "nổi sóng" đã bình lặng ngay sau đó, quay về dưới 21.000 đồng/USD. Theo cục Thống kê TP.HCM, tỷ giá USD/VND tháng 5 tăng 0,13% so với tháng trước, giảm 1,72% so với tháng 12.2011. Tính sơ sơ, người gửi tiết kiệm đồng USD đang phải lấy lãi suất USD 2% bù lại mức giảm 1,72% trong năm tháng đầu năm, họ cũng chẳng còn mấy đồng lãi. Cộng thêm thông điệp USD không tăng quá 2 – 3% trong năm nay của ngân hàng Nhà nước, đồng USD đã dần dần bị bán đi và thay thế bằng tiền đồng.

Con số huy động ở các ngân hàng đang thể hiện rõ điều này. Theo cục Thống kê TP.HCM, tổng huy động trên TP.HCM cuối tháng 5 ước đạt 903,5 ngàn tỉ đồng, tăng 0,6% so với tháng trước, tăng 11,9% so cùng kỳ. Vốn huy động bằng ngoại tệ trong tháng 3 chiếm 23,9% (đã giảm 5% so cùng kỳ) đến tháng 5 giảm thêm, chiếm 21,1%, giảm 11,7% so cùng kỳ. Ngược lại, vốn huy động tiền đồng từ hơn 76% tăng lên 78,9%, tăng 20,5% so cùng kỳ.

Như vậy, người có tiền đã xác định rõ nên bỏ tiền vào đâu, và cũng chẳng còn "kén cá chọn canh" nhiều như hai tháng trước đây. Tuy nhiên, thống kê cũng cho thấy, lượng tiền huy động ở các ngân hàng cổ phần trồi sụt liên tục, cho thấy việc giữ chân khách hàng bằng khi lãi suất trong xu hướng giảm là bài toán thách thức với họ. Đó là lý do các ngân hàng liên tiếp tung ra các chương trình khuyến mãi, hoặc đưa ra các sản phẩm đầu tư nhằm tối đa hoá lợi nhuận cho khoản tiết kiệm như ở Sacombank, Maritime, HSBC VN, ANZ…

Tuy lượng tiền gửi tăng, nhưng tốc độ tăng giảm dần qua từng tháng cho thấy, dù đang lên ngôi nhưng tiết kiệm chẳng phải là đất để đồng tiền sinh sôi nảy nở nhiều như đã từng có với thị trường chứng khoán, vàng hay USD. Còn đầu tư bất động sản thì đến nay nhiều người chẳng còn muốn nhắc đến.

Sẽ đổ tiền vào đâu?

Dù thị giá cổ phiếu hiện là 9.500 đồng/cổ phần, HĐQT công ty gỗ Trường Thành (TTF) vừa quyết định sẽ phát hành cổ phiếu với giá 5.000 đồng/cổ phần cho cổ đông hiện hữu nhằm tăng thêm vốn chủ sở hữu, cải thiện dòng tiền cho công ty. Ông Võ Trường Thành, chủ tịch HĐQT công ty cho biết, công ty đang làm việc với cổ đông chiến lược nước ngoài để bán 19% vốn điều lệ với giá 13.000 – 14.000 đồng/cổ phần. Tuy nhiên, phòng khi đàm phán không thành công, HĐQT đã muốn huy động từ cổ đông, nhằm giúp công ty bớt phụ thuộc vào vốn ngân hàng, bởi ông vẫn chưa vay vốn bổ sung được, cũng như lãi suất chưa giảm như mong muốn.

Theo tổng giám đốc một ngân hàng, khiến các cổ đông bỏ thêm tiền vào cổ phiếu là chuyện khó hiện nay. Thành ra, một số ngân hàng tăng vốn bằng cách trả cổ tức bằng tiền, để cổ đông lấy tiền mua cổ phiếu phát hành thêm.

Các nhà đầu tư đã có khoản lãi hấp dẫn hơn các kênh đầu tư khác khi tính từ đầu năm, VN-Index đã tăng hơn 20%. Theo báo cáo tháng 5 phát hành tuần qua của chứng khoán Bảo Việt (BVSC), thanh khoản và điểm số thị trường lại giảm do các yếu tố liên quan đến dòng tiền, cung cầu trong ngắn hạn hơn là do sự thay đổi xấu của yếu tố môi trường kinh tế trong nước hay yếu tố doanh nghiệp. Đáng lưu ý, dòng tiền có dấu hiệu đạt đỉnh trong 3 tháng gần đây, khi giá trị giao dịch trung bình phiên đã không tăng trong 3 phiên liên tiếp.

Theo BVSC, việc hạ trần lãi suất huy động đẩy sự hấp dẫn của kênh gửi tiết kiệm xuống khi so sánh các kênh đầu tư khác, trong đó có chứng khoán. Trong quá khứ, theo dõi biến động của lãi suất cho vay và chỉ số P/E, BVSC thấy biến động ngược chiều của P/E đối với diễn biến lãi suất. Tuy nhiên, chứng khoán không phải là kênh đầu tư rộng cửa với tất cả mọi người bởi có tiền thôi chưa đủ, nếu không có kiến thức, kinh nghiệm.

Theo Hồng Sương

SGTT

Read More...

UBCK khuyến khích các CTCK thực hiện M&A

Quá trình tái cấu trúc CTCK đang mở ra nhiều cơ hội M&A cho chính các CTCK, cũng như các đối tượng NĐT khác trong và ngoài nước muốn mua bán, sáp nhập với các CTCK Việt Nam.
Quá trình tái cấu trúc các CTCK mà Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) đang tập trung triển khai, mở ra nhiều cơ hội cho các đối tác ngoại muốn M&A với các CTCK Việt Nam.

ĐTCK trao đổi với ông Phạm Hồng Sơn, Vụ trưởng Vụ Quản lý kinh doanh chứng khoán, UBCK.

Thưa ông, trong thời gian qua, UBCK đã triển khai Đề án tái cấu trúc CTCK như thế nào?

Nội dung tổng thể của quá trình tái cấu trúc CTCK được thể hiện chi tiết tại Đề án tái cấu trúc các CTCK, mà Bộ trưởng Bộ Tài chính đã phê duyệt tại Quyết định 62/QĐ-BTC. Việc tái cấu trúc phải bắt nguồn từ nội tại của các CTCK.

Trong thời gian qua, các CTCK đã có nhiều động thái tích cực cho hoạt động tái cấu trúc của mình, để đảm bảo chỉ tiêu an toàn tài chính như: cắt giảm chi phí hoạt động; tổ chức lại bộ máy quản lý, nhân sự; tăng vốn; rút bớt nghiệp vụ kinh doanh; thu hồi nợ; bán tài sản có mức độ rủi ro cao… Các CTCK đã thấy rằng, minh bạch về tình hình tài chính của chính mình để có hướng khắc phục, là tiền đề quan trọng của chiến lược phát triển lâu dài trong hoạt động của công ty.

Để thực hiện Đề án tái cấu trúc CTCK, các biện pháp trọng tâm được triển khai trong năm 2012 là tăng cường năng lực quản trị và hoạt động của các CTCK, dựa trên ba trụ cột chính: quy định về tỷ lệ an toàn tài chính; quy định về hướng dẫn thông lệ khuôn khổ quản lý rủi ro cho các CTCK; quy chế về mô hình cảnh báo sớm để phân loại CTCK theo thông lệ quốc tế. Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, chính sách hướng dẫn hoạt động CTCK. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động CTCK, để đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật. Trên cơ sở báo cáo về tỷ lệ an toàn tài chính của các CTCK, UBCK đã chính thức công bố danh sách 7 CTCK đầu tiên bị đưa vào diện kiểm soát đặc biệt.

Số lượng các CTCK bị kiểm soát đặc biệt không dừng lại ở con số 7, mà sẽ được cập nhật theo từng tháng, thưa ông?

Ngoài danh sách 7 CTCK bị đưa vào diện kiểm soát đặc biệt, trong thời gian tới, UBCK tiếp tục công bố danh sách các CTCK bị kiểm soát đặc biệt theo định kỳ hàng tháng, nếu CTCK có tỷ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro nhỏ hơn 120%. Cùng với đó, chúng tôi yêu cầu các CTCK bị rơi vào diện kiểm soát đặc biệt phải khẩn trương gửi phương án khắc phục tình trạng này lên UBCK, để theo dõi, giám sát chặt chẽ.

Thưa ông, các CTCK không khắc phục được tình trạng bị kiểm soát đặc biệt sẽ phải giải thể, đóng cửa hoạt động?

Các CTCK rơi vào diện bị kiểm soát đặc biệt mà không khắc phục được tình trạng này và có lỗ lũy kế trên 50% vốn điều lệ mà không có những biện pháp khắc phục, thì sẽ đối mặt với nguy cơ bị đình chỉ hoạt động. Dự thảo Thông tư thay thế Quyết định 27/2007/QĐ-BTC hướng dẫn tổ chức và hoạt động CTCK đã hướng dẫn việc sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản CTCK.

Diễn biến trên sẽ tạo cơ hội M&A tốt cho các NĐT, nhất là NĐT nước ngoài có tiềm lực tài chính, kinh nghiệm quản lý, thưa ông?

Một mục đích quan trọng được đề cập cụ thể trong Đề án tái cấu trúc các CTCK là nâng cao chất lượng hoạt động, năng lực tài chính, quản trị DN và khả năng kiểm soát rủi ro của các CTCK, trên cơ sở đó từng bước thu hẹp số lượng CTCK.

Thực tế, quá trình tái cấu trúc CTCK được Bộ Tài chính, UBCK triển khai quyết liệt từ đầu năm 2012 đến nay đang mở ra nhiều cơ hội M&A cho chính các CTCK, cũng như các đối tượng NĐT khác trong và ngoài nước muốn mua bán, sáp nhập với các CTCK Việt Nam.

Chúng tôi khuyến khích các CTCK thực hiện M&A hoặc với các đối tác khác, trong đó có NĐT nước ngoài có tiềm lực tài chính, nhiều kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh chứng khoán.

Theo ông, để thành công trong một thương vụ M&A với CTCK Việt Nam, NĐT nước ngoài cần lưu ý những điểm gì?

Điều quan trọng là các bên cần thống nhất nhận thức, M&A là hoạt động tự nguyện và phải tuân thủ các quy định pháp lý cũng như nguyên tắc thị trường. Khi thực hiện quy trình M&A, các bên cần chủ động thường xuyên công bố thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, để NĐT, cổ đông nắm được.

Khi nhận được phản hồi, thắc mắc của cổ đông hoặc các bên có quyền lợi liên quan, CTCK cũng như đối tác M&A cần giải đáp kịp thời. Đây là điều không nên xem nhẹ, bởi xử lý không tốt có thể khiến CTCK đối mặt với những khiếu nại phức tạp, ảnh hưởng đến tiến độ M&A.

Với các đối tác nước ngoài muốn M&A với các CTCK Việt Nam, cần lưu ý đến yếu tố khác biệt về văn hóa, kể cả tập quán kinh doanh trên TTCK Việt Nam, để không chỉ đảm bảo cho quá trình M&A diễn ra suôn sẻ, mà còn đạt hiệu quả kinh doanh tốt hậu M&A.

Theo Hữu Hòe
ĐTCK

Read More...

Cấm “bói” chứng khoán

Các công ty chứng khoán sẽ không được đưa ra dự báo giá hoặc khuyến nghị giao dịch chứng khoán.

Cổ phiếu A lên, cổ phiếu B xuống, xu hướng thị trường đi ngang, đi dọc, nên mua lúc nào, bán lúc nào… là những nhận định mà các công ty chứng khoán (CTCK) hay gửi cho nhà đầu tư qua bản tin, các khuyến nghị về thị trường... Nghe theo các tư vấn kiểu "thầy" phán hên xui này, không ít nhà đầu tư đã tiền mất, nợ mang.

Tràn ngập thông tin "chém gió"

Hiện nay, số lượng bản tin phân tích, bình luận, dự báo giá chứng khoán nhiều như nấm mọc. Ngoài bản tin từ các CTCK còn có các khuyến nghị từ công ty đầu tư, từ các báo viết về tài chính và một số chuyên gia bình luận về thị trường. Anh Trần T., một nhà đầu tư ở sàn chứng khoán SSI (quận1, TP.HCM), cho biết sau khi mở tài khoản ở một CTCK, mỗi ngày email của anh nhận cả chục bản tin phân tích, bình luận đủ kiểu từ ba CTCK và hai công ty đầu tư.
 
"Ban đầu tôi còn đọc, càng về sau nhiều bản tin có nội dung trùng nhau, không có gì mới. CTCK nào cũng phân tích trong ngắn hạn nhà đầu tư nên xem xét việc tăng, giảm giá cổ phiếu, còn xét về trung và dài hạn thì nên mua chứng khoán vào… Riết thấy các email này là tôi nhức đầu luôn vì phải liên tục bấm xóa" - anh T. nói.

Các nhà đầu tư nhỏ rất dễ bị tác động từ các bản tin, phân tích, nhận định thị trường từ các CTCK.

Phần nội dung phân tích, dự báo có xác suất tin cậy không cao, đã không ít lần gây tác động tiêu cực đến thị trường. Chị Võ Thị Hồng D. (nhà đầu tư ở quận 3) kể: "Ban đầu, do không am hiểu thị trường nên tôi cũng mua theo lời khuyên của các bản tin. Khổ nỗi, các cổ phiếu tôi mua đã rớt giá thê thảm. Trong năm 2011, tôi đã mất 200 triệu đồng và còn nợ tiền vay vì mua cổ phiếu thuộc ngành ngân hàng theo các thông tin phân tích từ CTCK đưa ra".

Theo Ủy ban Chứng khoán, nhiều CTCK đã bị doanh nghiệp (DN) phản ứng khi đưa cổ phiếu ra mổ xẻ dưới góc độ phân tích dự báo. Do không nắm hết thông tin về hoạt động DN, số liệu không chính xác nên các nhận định, bình luận bị sai, làm ảnh hưởng đến DN và ít nhiều tác động đến quyết định mua bán cổ phiếu của nhà đầu tư.

Cấm dự báo giá cổ phiếu

Ông Lê Nhị Năng, đại diện phía Nam của Ủy ban Chứng khoán, cho biết: "Dự kiến tháng 7 tới sẽ có thông tư mới hướng dẫn về hoạt động CTCK, trong đó sẽ quy định siết chặt các nhận định, đánh giá thị trường vốn từ các CTCK" - ông Năng nói.

Được biết thông tư mới quy định khá chặt về các bình luận, phát ngôn từ CTCK. Các CTCK không được đưa ra nhận định hoặc bảo đảm với khách hàng về mức thu nhập, lợi nhuận đạt được hoặc "đảm bảo khách hàng không thua lỗ" trên khoản đầu tư của mình.

Với các bản tin đưa ra thị trường, CTCK sẽ không được thông tin cho công chúng dự báo giá về một chứng khoán hoặc đưa ra các khuyến nghị giao dịch liên quan đến một chứng khoán cụ thể. CTCK thực hiện nghiệp vụ môi giới thì không được đưa ra ý kiến về việc tăng hay giảm giá chứng khoán để lôi kéo khách hàng tham gia giao dịch.

Đồng tình với dự thảo thông tư trên, anh Nguyễn Hải B., một nhà đầu tư ở quận 1, nói: "Tôi và bạn bè không tin lắm vào các nhận định, khuyến nghị từ các bản tin chứng khoán. Các thông điệp này đều ghi là "CTCK không chịu bất kỳ trách nhiệm gì từ các thông tin đưa ra". Vả lại, CTCK cũng tự kinh doanh cổ phiếu, nếu họ biết chắc cổ phiếu nào tốt thì đã đầu tư rồi, còn khuyên khách hàng chi nữa?".

Theo Bùi Nhơn

Pháp luật TPHCM

Read More...

Phó thủ tướng: Từ nay đến cuối năm, NSNN sẽ ''rót'' vào nền kinh tế khoảng 21.000 tỷ đồng/tháng

Trong 6 tháng cuối năm phấn đấu tăng bình quân tín dụng 2%/tháng để dư nợ tín dụng cả năm 2012 là 12-13%
Trong phiên chất vấn Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sáng nay, Phó thủ tướng cho biết Việt Nam sẽ thực hiện đẩy nhanh tiến độ cơ cấu lại hệ thống NHTM, thực hiện các giải pháp xử lý nhanh nợ xấu ngân hàng, nợ xấu doanh nghiệp.

Ngăn chặn tích cực các hoạt động tín dụng, giải quyết nhanh các thủ tục để doanh nghiệp thực sự dễ dàng tiếp cận tín dụng hơn, đồng đảm bảo chuẩn tín dụng, nâng cao mức tăng dư nợ tín dụng, phấn đấu tăng bình quân tín dụng 2%/tháng trong 6 tháng cuối năm để dư nợ tín dụng cả năm 2012 là 12-13%. Như vậy, theo kế hoạch vốn, nhà nước đưa vào nền kinh tế từ đây đến cuối năm là 21.000 tỷ đồng, cùng với tăng dư nợ tín dụng của NHTM sẽ góp phần tăng sức mua cho nền kinh tế, giải quyết hàng tồn kho của các doanh nghiệp, thiết thực hỗ trợ doanh nghiệp phát triển kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Trong phần trả lời chất vấn, Phó thủ tướng tái khẳng định về công cụ tài khóa, ngân sách nhà nước sẽ đưa ra nên kinh tế khoảng 21.000 tỷ đồng/tháng trong những tháng còn lại của năm 2012.

Trả lời câu hỏi của Đại biểu về năm 2012, kinh tế khó khăn, khủng hoảng thế giới, Việt Nam đã vượt qua thời kỳ khó khăn hay chưa? Phó Thủ tướng trả lời:

Chúng ta đã vượt qua thời kỳ khó khăn, cụ thể quý I Việt Nam tăng trưởng 4%, nhiều doanh nghiệp bị giải thể, ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh, nhưng quý II chúng ta thấy tăng trưởng kinh tế khá hơn, ít doanh nghiệp phá sản hơn, hàng tồn kho ít hơn.

Đánh giá một nền kinh tế tôi cho rằng có 3 tiêu chí quan trọng: chỉ số phát triển công nghiệp, xuất nhập khẩu, tổng mức bán lẻ của nền kinh tế. Có thể nói căn cứ vào các tiêu chí này đất nước ta trong tháng 5 tình hình kinh tế đã tốt hơn so với tháng 4 và quý I. Chính vì vậy, chúng ta đã qua khó khăn nhất và bắt đầu có xu hướng phát triển tốt.

Liệu Nghị quyết 13, đặt ra gói hỗ trợ 29.000 tỷ đồng và NS rót khoảng 21.000 tỷ đồng/tháng vào nền kinh tế sẽ có nguy cơ đưa Việt Nam trở lại với lạm phát? Phó thủ tướng cho rằng, gối hỗ trợ 29.000 tỷ đồng, lãi suất đã giảm còn 9%, lãi suất vay không quá 13%, NS và TPCP rót vào nền kinh tế khoảng 21.000 tỷ đồng/tháng là nguồn lực quan trọng để hỗ trợ phát triển sản xuất, giải quyết việc làm .

Tuy nhiên cũng có thể như đại biểu đã nêu là dẫn đến nguy cơ lạm phát cần phải ngăn ngừa. Nhưng gói hỗ trợ 29.000 tỷ đồng và hạ lãi suất huy động tiền đồng xuống 9%/năm là nằm trong kế hoạch. Gói 29.000 tỷ đồng là gói hỗ trợ chứ không phải kích thích. Vì vậy chúng ta sẽ kết hợp chặt chẽ hơn chính sách tài khóa và tiền tệ để lạm phát không quay trở lại.

Chúng ta đặt mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô là mục tiêu quan trọng để đất nước phát triển ổn định, tốt đẹp trong thời gian tới. Đây là sự nhất quán của lãnh đạo Chính phủ, không phải quan trọng tăng trưởng bỏ qua lạm phát.

Vì vậy chúng tôi đặt vấn đề tăng trưởng dưới 6%, lạm phát 7-8%. Với tinh thần vậy, chúng tôi nghĩ rằng chúng ta đã vượt qua khó khăn. Chính phủ nhất quyết không để lạm phát quay trở lại.

Q. Nguyễn  

Theo TTVN

Read More...

Khả quan tăng trưởng tín dụng

Với nguồn vốn lớn có giá rẻ, hiện nay các NHTM lớn trong nhóm G14+1 đang có nhiều lợi thế trong tăng trưởng tín dụng từ nay đến cuối năm.

Xu thế trần lãi suất huy động và cho vay giảm mạnh đã giúp cho hệ thống NHTM thoát khỏi tình trạng "đóng băng" tín dụng. Trong đó đã có một số NHTM có mức tăng trưởng tín dụng đạt gần 50% kế hoạch cả năm. Với nguồn vốn lớn có giá rẻ, hiện nay các NHTM lớn trong nhóm G14+1 đang có nhiều lợi thế trong tăng trưởng tín dụng từ nay đến cuối năm.

Tín dụng kích tăng trưởng kinh tế

Mới đây, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình cho biết 2 tháng đầu năm, dư nợ của hệ thống NHTM tăng trưởng âm, nhưng từ tháng 3 đã có xu hướng tăng nhẹ. Một số NHTM đã tăng trưởng dương, trong đó có trường hợp đã tăng trưởng gần hết chỉ tiêu cả năm 2012 của NHNN giao và vẫn có nhu cầu tiếp tục mở rộng trong thời gian tới.

Theo nguồn tin ĐTTC, tại Eximbank đến cuối tháng 5 tín dụng đã tăng trưởng khoảng 2,4%; Agribank 5 tháng đầu năm cũng tăng được gần 1%; BIDV 5 tháng đầu năm tăng trưởng đến 8,39%...

Tính đến 30-4-2012, tốc độ tăng trưởng tín dụng của MB (các chi nhánh tại Việt Nam) là 9%, đạt 53% kế hoạch tăng trưởng tín dụng của năm 2012. Lãnh đạo MB cho biết vẫn đang tiếp tục bám sát định hướng hoạt động tín dụng, duy trì tăng trưởng tín dụng năm 2012 theo nguyên tắc "có chọn lọc, hiệu quả và bảo đảm kiểm soát được chất lượng tín dụng".

Cụ thể, ngay từ đầu năm triển khai chỉ đạo của NHNN theo Chỉ thị 01, MB đã ưu tiên sử dụng hạn mức tín dụng tăng thêm khoảng 8.000 tỷ đồng đối với 4 lĩnh vực ưu tiên và định hướng giảm dần lãi suất cho vay nhằm chia sẻ với khách hàng vượt qua khó khăn, thắt chặt mối quan hệ.

Trong đó, MB đã xây dựng "Gói tín dụng xuất khẩu" dành cho khách hàng thuộc các lĩnh vực xuất khẩu mũi nhọn (thủy sản, gạo, cà phê, cao su, hạt điều, xăng dầu, than, may mặc, dây điện và cáp điện…) với mức lãi suất cho vay thấp hơn khung lãi suất cho vay thông thường từ 0,5-1%/năm, đồng thời điều chỉnh một số loại phí đối với hoạt động tài trợ thương mại xuất khẩu.

Ngay sau khi Thông tư 14 của NHNN được ban hành, MB đã triển khai chỉ đạo, hướng dẫn toàn hệ thống thực hiện thông tư, áp dụng lãi suất cho vay 15%/năm và hiện nay trần lãi suất cho vay đã giảm xuống 13%/năm đối với các khách hàng thuộc 4 lĩnh vực ưu đãi (nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp nhỏ và vừa) đáp ứng được đầy đủ các điều kiện cho vay theo quy định của NHNN và MB. MB cũng đã xác lập mức lãi suất cho vay hợp lý, xem xét điều chỉnh giảm lãi suất cho vay đối với một số khách hàng tốt, khách hàng truyền thống để hỗ trợ vượt thoát trong giai đoạn khó khăn.

Để thực hiện nhiệm vụ tăng trưởng tín dụng từ nay đến cuối năm, ngân hàng này cho biết ngoài việc tập trung tăng trưởng tín dụng các lĩnh vực ưu tiên theo Thông tư 14 của NHNN, MB cũng dành "room" tín dụng cho vay đối với các doanh nghiệp phân phối hàng tiêu dùng thiết yếu, các dự án trung hạn đầu tư tăng năng lực thiết bị của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả; các khách hàng cá nhân vay vốn tiêu dùng, phục vụ nhu cầu đời sống có nguồn trả nợ từ lương.

Để tiếp cận các khách hàng vay vốn, ngoài chính sách về lãi suất, MB đang triển khai các giải pháp như gia tăng tiện ích và tốc độ xử lý đối với các giao dịch thanh toán, tài trợ thương mại, tạo sự thuận tiện cho khách hàng trong quá trình giao dịch.

Đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh, chất lượng dịch vụ của ngân hàng thông qua các sản phẩm dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao, đội ngũ nhân viên am hiểu nghiệp vụ và có khả năng tư vấn cho khách hàng trong các giao dịch tài chính.

Bài toán lợi nhuận và rủi ro

Có thể thấy 4 lĩnh vực NHNN áp trần lãi suất cho vay 13%/năm hiện nay chiếm tỷ trọng dư nợ khá lớn của các NHTM nên tất yếu sẽ ảnh hưởng biên lợi nhuận trong hoạt động tín dụng. Nhưng theo lãnh đạo MB, việc áp dụng lãi suất cho vay trong ngắn hạn có thể sẽ ảnh hưởng đến biên độ lợi nhuận của MB nói riêng và các ngân hàng nói chung.

Tuy nhiên, đây là xu hướng tất yếu trong điều kiện lạm phát nền kinh tế đang có xu hướng hạ nhiệt. Mức lãi suất cho vay này nằm trong lộ trình, định hướng giảm lãi suất cho vay của MB (trước thời điểm thông tư có hiệu lực, MB đã chủ động áp dụng chính sách lãi suất ưu đãi rất thấp đối với các doanh nghiệp thuộc gói tín dụng xuất khẩu).

Trong dài hạn, điều này sẽ mang lại lợi ích cho các NHTM. Cụ thể, với sự hỗ trợ lãi suất của các NHTM và thực thi đồng bộ các giải pháp của Chính phủ, NHNN, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, hoạt động chu chuyển vốn sẽ tăng mạnh trở lại, tác động đến hồi phục và tăng trưởng của nền kinh tế và phản hồi tích cực trở lại đến hoạt động của NHTM.

Một thách thức khác đặt ra cho các NHTM hiện nay khi đẩy mạnh cho vay là nỗi lo nợ xấu gia tăng và khách hàng khó đạt đủ điều kiện cho vay. Nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng trong điều kiện hiện nay các NHTM sẽ phải linh hoạt trong chính sách tín dụng để đối phó với 2 áp lực trên.

Theo lãnh đạo MB, cùng với việc kiểm soát nợ xấu, ngân hàng nghiên cứu thực hiện cơ cấu nợ đối với các khoản vay không trả nợ đúng hạn do tác động của các yếu tố kinh tế trong nước và quốc tế làm cho sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn, chậm tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩm, ứ đọng tồn kho hàng hóa.

Ngân hàng chủ động phối hợp với khách hàng để tháo gỡ khó khăn trong việc trả nợ và tiếp cận vay vốn, nhằm tạo điều kiện cho khách hàng vay từng bước phục hồi, duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh đảm bảo được khả năng hoàn trả nợ vay cho MB, hoạt động bền vững và có thiện chí hợp tác…



Theo Thủy Dương
Sài Gòn đầu tư
Read More...

Lý giải tại sao lãi suất giảm dòng tiền vẫn không vào chứng khoán

Theo các chuyên gia, nhà đầu tư hiện nay sẽ quan tâm nhiều hơn đến chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hơn là CPI hay GDP. NĐT sẽ quay trở lại chỉ khi nào nguồn vốn giá rẻ thực sự được đưa tới tay DN.

Trần lãi suất hiện tại đã giảm 5% trong 3 tháng, từ 14%/năm xuống 9%/năm. Khi lãi suất giảm, kênh tiết kiệm sẽ trở nên kém hấp dẫn và dòng tiền thông minh có thể tìm sang các kênh đầu tư khác. Tuy nhiên ở thời điểm hiện tại TTCK vẫn chưa thực sự cảm nhận được dòng tiền mới tham gia vào thị trường, vậy việc giảm lãi suất có thực sự khiến dòng tiền tập trung vào TTCK hay không, chúng tôi đã có trao đổi với các chuyên gia tại các CTCK.

Ông Lê Đức Khánh – Trưởng phòng Tư vấn đầu tư CTCK MSBS: Tiền sẽ đổ về chứng khoán

Ông Lê Đức Khánh

Trần LS giảm xuống 9% trước sau gì cũng sẽ có tác động kéo dòng tiền vào kênh đầu tư chứng khoán. Một nền kinh tế phát triển với tình hình vĩ mô sáng sủa sẽ là bước khởi đầu của sự lạnh mạnh và sự phát triển của TTCK. Do vậy, tôi đồng ý với quan điểm CK là kênh đầu tư hấp dẫn nhất hiện nay.

Ông Đào Hồng Dương – Chuyên viên phân tích CTCK Dầu khí (PSI): Cảnh giác tín dụng đen

Việc giảm lãi suất sẽ giúp giảm bớt gánh nặng chi phí cho các doanh nghiệ, qua đó phần nào sẽ làm giảm giá thành đầu ra và theo một cách dài hạn thì việc này sẽ dần làm giảm giá thành các sản phẩm tiêu dùng tiến tới giảm lạm phát. Ngoài ra, giảm lãi suất sẽ giúp các ngân hàng tái cơ cấu các khoản vay tới hạn, phần nào sẽ làm giảm nợ xấu năm 2012, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, thúc đẩy các kênh đầu tư…

Tuy nhiên, việc giảm chi phí cho các doanh nghiệp sẽ chỉ duy trì được trong thời gian ngắn, đặc biệt tại các doanh nghiệp có tỷ lệ vốn vay cao. Đối với các khoản vay tín dụng lãi suất "khủng" ẩn dưới các hình thức ủy thác đầu tư chẳng hạn, hoặc với các khoản vay kì hạn ngắn, theo như tìm hiểu thì các nội dung này hầu như lãi suất không giảm theo mặt bằng. Điều này cho thấy các DN nếu năm ngoái đã phải sử dụng nguồn vốn vay kiểu này để có thể vay được tiền từ ngân hàng thì năm nay sẽ không được lợi từ việc giảm lãi suất.

Ông Đào Hồng Dương
Thứ hai, tăng trưởng tín dụng tính đến tháng 5 vẫn -0,6% cho thấy các ngân hàng chưa thực hiện đảo nợ hoặc đẩy mạnh cho vay mà chỉ có thể thu hồi nợ cũ mà thôi.

Việc giảm lãi suất cũng có những mặt trái, nếu không quản lý chặt chẽ có thể tác động xấu tới lạm phát, tỷ giá và tín dụng đen.

Quay trở lại giảm lãi suất sẽ tác động thế nào đến TTCK. Hiện tại thông tin giảm lãi suất không tác động nhiều đến tâm lý NĐT. Việc thị trường tăng hay giảm còn phụ thuộc vào thị trường thế giới và động thái bán ròng của khối ngoại. Nếu khối ngoại tiếp tục đổ hàng ra bán thì thị trường sẽ có một nhịp giảm tương đối nữa.

Đối với thị trường trong nước, CPI tăng thấp không có tính chất tác động đến thị trường mà NĐT hiện nay quan tâm đến chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, khi nào nguồn vốn giá rẻ được đẩy ra thị trường và ngấm vào doanh nghiệp, tỷ lệ nợ giảm mới tác động tổng quát đến thị trường và lôi kéo NĐT trở lại.

Trên thực tế tiền trong dân ko đổ vào NH thì nó đổ đi đâu, chưa chắc nó đổ vào TTCK. Trong tổng thể ngân hàng là trung gian vay tiền tiết kiệm trong dân đổ vào DN, khi lãi suất hạ nhanh và mạnh thì trong điều kiện nếu không quản lý chặt chẽ thì tín dụng chợ đen sẽ bùng phát trở lại. Người dân có tiền không biết đầu tư vào đâu, các kênh đầu tư ít kì vọng, thì rất có thể người dân sẽ đưa tiền cho chợ đen, tình trạng đó nếu như diễn ra giống năm 2010-2011 thì đó là điều rất là xấu.

Ông Lê Tuấn Hưng – Chuyên viên phân tích CTCK IVS: Dòng tiền có thể chuyển sang vàng

Ông Lê  Tuấn Hưng
Việc những tin tức Vĩ mô tốt được công bố song không giúp thị trường bứt phá mà chỉ hình thành những đợt hồi phục nhỏ theo chúng tôi nguyên nhân xuất phát từ tâm lý đầu tư và yếu tố cung cầu - dòng tiền tham gia thị trường.

Yếu tố tâm lý chi phối khi những quan ngại trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng cũng như nền kinh tế có vẻ thực thi một cách chậm chạp, trong khi đó nợ xấu của hệ thống Ngân hàng tăng cao gây ách tắc dòng chảy vốn làm lãi suất thực tế chưa giảm khiến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp bị hạn chế.

Tuy NHNN đề cập đến việc thành lập công ty mua bán nợ với quy mô khoảng 100.000 tỷ đồng, nhưng giải pháp này mới chỉ được đề xuất trong khi cách thức tiến hành nghiệp vụ mua bán nợ vẫn chưa được đề cập. Trong khi đó sự trì trệ trong sản xuất và sức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp niêm yết chưa được cải thiện khiến lượng hàng tồn kho lớn gây ảnh hưởng lớn tới Kết quả sản xuất kinh doanh.

Bên cạnh đó khủng hoảng nợ nợ công Châu Âu, bong bóng tăng trưởng của Trung Quốc và tăng trưởng chậm lại của kinh tế Mỹ tác động tiêu cực tới lĩnh vực xuất khẩu, dòng tiền FDI, FII sẽ phải cân nhắc hơn khi đầu tư vào Việt Nam, không loại trừ một số khoản đã đầu tư chịu áp lực rút vốn. Do vậy tâm lý NĐT chuyển dần sang hướng thận trọng và có chiều hướng bi quan hơn.

Yếu tố dòng tiền trong thời gian qua bị phân tán khi số lượng cổ phiếu niêm yết mới và niêm yết bổ sung tăng tạo lượng cung lớn. Bên cạnh đó Các blue chips chưa thu hút được sự quan tâm và tích luỹ dòng tiền khi chỉ số hồi phục, trong khi cổ phiếu đầu cơ luôn là ưu tiên lựa chọn của nhà đầu tư. Sự lên ngôi của các dòng tiền đầu cơ khiến thị trường biến động không ổn định, có biên độ rất lớn trong khoảng thời gian ngắn.

Lãi suất tuy hạ nhưng lãi suất magin của các công ty chứng khoán không hạ theo, trong khi đó việc giảm lãi suất cũng làm kém sự hấp dẫn của VND cộng với kinh tế thế giới có chuyển biến phức tạp khiến dòng tiền có thể chuyển sang Vàng với vai trò là kênh trú ẩn an toàn.

Phương Mai

Theo TTVN

Read More...

Điểm mặt những cổ phiếu có "tiếng nói" quyết định đến Vn-Index và VN30

VCB và GAS đang chiếm gần 23% tỷ trọng của Vn-Index. Đối với VN30, STB và EIB cũng chiếm tỷ lệ tương tự.

Trước kia, Vn-Index chịu sự chi phối rất lớn từ nhóm "tứ trụ" gồm VIC-MSN-BVH-VNM.

Tuy nhiên, tác động của nhóm này đối với chỉ số đã giảm đi đáng kể khi có sự góp mặt của GAS và VCB niêm yết bổ sung phần vốn của nhà nước.

Tính theo giá đóng cửa ngày 23/5, GAS và VCB lần lượt chiếm 11.9% và 10.5% tỷ trọng của rổ chỉ số Vn-Index. Nhóm "tứ trụ" ngày trước lùi xuống 4 vị trí tiếp theo, chiếm gần 30% vốn hóa của rổ chỉ số.

STB và EIB, hai cổ phiếu chỉ chiếm 7,6% tỷ trọng của Vn-Index nhưng lại là 2 cổ phiếu lớn nhất chiếm 22,7% tỷ trọng của chỉ số VN30.
KAL

Theo TTVN

Read More...

Tháng 7, bùng nổ CTCK bị kiểm soát đặc biệt?

Trong số 7 CTCK vừa bị Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) đưa vào diện kiểm soát đặc biệt (KSĐB), có CTCK đang muốn "giải nghệ" càng sớm càng tốt.

Với quy định mới tại Thông tư 52/2012/TT-BTC hướng dẫn về công bố thông tin trên TTCK có hiệu lực từ ngày 1/6, thì có thể sắp bùng nổ tình trạng CTCK bị KSĐB và kèm theo đó sẽ có thêm những "cuộc giã từ".

"Giã từ" thị trường

Theo công bố của UBCK, CTCK thứ 7 bị đưa vào diện KSĐB là CTCK Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIG) niêm yết trên Sở GDCK Hà Nội. Trước đó, UBCK công bố danh sách 6 CTCK bị KSĐB gồm: CTCK Cao su, CTCK Vina, CTCK Hà Nội, CTCK Trường Sơn, CTCK Đà Nẵng và CTCK Mê Kông, do tỷ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro nhỏ hơn 120% theo quy định tại Thông tư 226/2010/TT-BTC.

Đáng chú ý, trong số các CTCK bị đưa vào diện KSĐB đã có công ty có ý định "giã từ" thị trường. Trao đổi với ĐTCK, ông Huỳnh Hồng Vĩnh, quyền Tổng giám đốc CTCK Cao su (RUBSE), cho biết, Công ty đã hoàn chỉnh phương án khắc phục tình trạng KSĐB gửi UBCK theo quy định. Do hoạt động kinh doanh hiện gặp nhiều khó khăn, nên trong định hướng sắp tới, RUBSE đang tìm kiếm đối tác để chuyển nhượng.

"RUBSE sẽ chuyển nhượng toàn bộ, chứ không duy trì hoạt động dưới bất kỳ hình thức nào. Đã có một số đối tác trong nước đánh tiếng muốn mua RUBSE, nhưng các bên vẫn đang trong quá trình thương thảo. Phương án chuyển nhượng cụ thể vừa được RUBSE trình Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam (VRG) và đang chờ ý kiến chỉ đạo để triển khai…", ông Vĩnh nói.

Trả lời câu hỏi RUBSE sơ bộ chào bán với giá bao nhiêu, ông Vĩnh cho biết, vấn đề này chưa được Công ty đưa ra bàn bạc chi tiết, bởi phải chờ ý kiến chỉ đạo chính thức từ phía VRG. Mục tiêu mà RUBSE đặt ra là hoàn tất chuyển nhượng càng sớm càng tốt, để không chỉ giải tỏa những khó khăn hiện nay, mà còn thực hiện sớm chủ trương Chính phủ đã chỉ đạo VRG là hoàn tất thoái vốn đầu tư khỏi lĩnh vực kinh doanh ngoài ngành nghề chính, trong đó, có ngành chứng khoán, muộn nhất trước năm 2015.

Trong trường hợp RUBSE chuyển nhượng bất thành thì sao? Ông Vĩnh cho hay, mục tiêu mà RUBSE đặt ra là chuyển nhượng càng sớm càng tốt. Nếu bán bất thành, thì RUBSE sẽ xin ý kiến chỉ đạo của VRG để có hướng xử lý tiếp.

Là CTCK mới nhất vừa bị đưa vào diện KSĐB, đại diện VIG khẳng định, với tư cách là DN niêm yết, để đảm bảo quyền lợi của các cổ đông, VIG đang triển khai nhiều biện pháp tái cấu trúc để sớm đưa Công ty thoát khỏi diện bị KSĐB. Cụ thể, ngoài rút bớt nghiệp vụ bảo lãnh phát hành, sắp tới, VIG sẽ giảm vốn điều lệ từ mức 341 tỷ đồng hiện tại. Phương án giảm vốn chi tiết sẽ được VIG trình ĐHCĐ thông qua trong thời gian tới.

Một câu hỏi thu hút sự quan tâm của thị trường là có hay không tình trạng NĐT ồ ạt tháo chạy khỏi các CTCK bị KSĐB, đã không được đại diện các CTCK thuộc diện này giải đáp. Thay vào đó, họ chỉ đưa ra thông tin chung chung là công ty đang trong quá trình tái cơ cấu, hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn…

Không dừng ở con số 7

Lãnh đạo UBCK cho biết, ngoài 7 CTCK bị đưa vào diện KSĐB, trong thời gian tới, UBCK tiếp tục công bố danh sách các CTCK bị KSĐB theo định kỳ hàng tháng với những đơn vị nào có tỷ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro nhỏ hơn 120%. Các CTCK rơi vào diện bị KSĐB mà không khắc phục được tình trạng này và có lỗ lũy kế trên 50% vốn điều lệ, thì sẽ đối mặt với nguy cơ bị đình chỉ hoạt động. Dự thảo Thông tư thay thế Quyết định 27/2007 hướng dẫn tổ chức và hoạt động CTCK đang được UBCK khẩn trương hoàn tất để chuẩn bị ban hành đã đưa ra những quy định cụ thể về việc sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản CTCK.

Đặc biệt, theo quy định của Thông tư 52/2012, có hiệu lực từ ngày 1/6 tới, thì CTCK phải công bố thông tin định kỳ về Báo cáo tỷ lệ vốn khả dụng được soát xét bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận tháng 6 và tháng 12 cùng với thời điểm công bố thông tin BCTC bán niên và BCTC năm… Điều này có nghĩa là lần đầu tiên kể từ mùa công bố BCTC bán niên có soát xét năm nay, sẽ chính thức lộ diện chỉ tiêu vốn khả dụng của tất cả các CTCK. Khi đó, cả thị trường, NĐT, chứ không riêng UBCK biết CTCK nào thuộc diện bị kiểm soát hay KSĐB như hiện tại. Điều này có thể làm bùng nổ tình trạng các CTCK bị đưa vào diện KSĐB từ tháng 7 tới.

Hữu Đạo

đầu tư chứng khoán

Read More...

Bàn tay đầu cơ khiến giá vàng biến động dữ dội

Thị trường vàng vừa trải qua một phiên biến động cực mạnh, khi giảm tới hơn 2% nhưng sau đó đảo chiều nhờ hoạt động mua bù của các quỹ đầu cơ sau làn sóng bán tháo đầu phiên.

Trong phiên sáng (theo giờ New York), vàng đã thử mức hỗ trợ lần thứ 2 chỉ trong vòng 1 tuần khi mà làn sóng bán tháo lan rộng khắp các thị trường, bao gồm cả hàng hóa, đồng euro và chứng khoán. Dòng tiền tập trung vào trái phiếu và đồng USD vì ít rủi ro trước khi EU khai mạc hội nghị thượng đỉnh.

Trên thị trường giao ngay, giá vàng có lúc xuống 1.534,25 USD/ounce, thấp hơn 2% so với phiên liền trước, do đồng Euro rơi xuống mức thấp 20 tháng so với USD. Vàng kỳ hạn cũng lún sâu khi chỉ còn 1.532 USD.


Giá vàng biến động mạnh trong ngày 23/5 (nguồn: kitco)

Giá vàng đảo chiều sau khi có tin các nhà lãnh đạo châu Âu thông báo tới các thành viên rằng đã chuẩn bị kế hoạch dự phòng trong trường hợp Hy Lạp rời bỏ khối đồng tiền chung. Ngân hàng Trung ương Đức cho biết mọi thứ sẽ được quản lý tốt, điều này có nghĩa thị trường sẽ tránh được một cú sốc lớn.

Một số thương nhân cho biết, sau tin này, hoạt động mua bù của các quỹ quản lý tiền tệ đã diễn ra mạnh. SPDR hôm qua mua vào hơn 2,7 tấn vàng, sau phiên bán ra mạnh nhất kể từ tháng 8 năm ngoái.

Tới cuối phiên, giá vàng giao ngay hồi phục và chỉ còn giảm 0,4%, chốt tại 1.562,2 USD/ounce. Thị trường kỳ hạn đóng cửa sớm hơn nên không kịp hồi và chịu để mất 1,76% xuống 1.548,4 USD/ounce.

Tương lai của Hy Lạp vẫn là một ẩn số cho đến cuộc bầu cử lần 2 vào ngày 17/6. Nếu các cử tri tiếp tục ủng hộ phe chống lại các biện pháp thắt lưng buộc bụng thì việc Athens phải rời khối là điều rõ ràng. Còn hiện tại, theo các nhà đầu tư, thị trường vẫn tập trung vào các biện pháp giải quyết khủng hoảng nợ công của các nhà lãnh đạo châu Âu.

Nguyễn Hằng

Theo TTVN/Reuters, Bloomberg, Kitco

Read More...

Giá vàng bất ngờ nhảy vọt

Thị trường vàng thế giới vừa có phiên tăng tới 35 USD một ounce - mức cao nhất kể từ đầu năm bất chấp việc giá dầu thô lao dốc.

Cuối phiên giao dịch thứ năm, sàn giao dịch vàng tại Mỹ bất ngờ chứng kiến bước nhảy vọt trong ngày lớn nhất kể từ đầu năm. Với mức tăng này, thị trường đã phục hồi đáng kể sau khi liên tục đi xuống kể từ đầu tuần.

Từ lúc mở cửa ngày đến đầu phiên Mỹ, biểu đồ dao động quanh 1.540 USD một ounce. Sang phiên giao dịch tại sàn New York, giá bốc cao nhanh chóng, chỉ vài chục phút tăng mạnh 35 USD và chốt phiên ở quanh 1.575 USD. Đà tăng mạnh mẽ diễn ra ngay sau khi Cục Dự trữ bang Philadelphia công bố sự sụt giảm trong hoạt động sản xuất tại đây.

Tuy tăng 2,3% trong ngày hôm qua, tổng cộng giá vàng đã giảm 11% kể từ ngày 30/4. Đến sáng nay, thị trường châu Á vẫn trong xu hướng tăng nhẹ. Tính đến 6h47, mỗi ounce tương đương 1.575,10 USD, nhích 0,80 USD so với mở cửa.

Vàng là thị trường có bước nhảy lớn nhất của ngày hôm qua. Trong khi đó, dầu thô - vốn là "bạn" đồng hành của kim loại quý lại xuống mức thấp nhất từ đầu năm, khi giới đầu tư vẫn lo ngại khả năng Hy Lạp phải rời khỏi Liên minh châu Âu vì kinh tế chính trị bất ổn. Hiện mỗi thùng dầu còn tương đương 92,90 USD. Còn thị trường chứng khoán Mỹ giảm điểm ngày thứ năm liên tiếp, chạm đáy của 4 tháng do các thông tin không mấy lạc quan tại cả Mỹ và châu Âu.

Hôm qua, thông tin từ Ấn Độ cho thấy nhu cầu tiêu thụ vàng tại nước này bất ngờ giảm 29% xuống dưới 200 tấn trong quý một. Bên cạnh nguyên nhân giá vàng thế giới tăng cao vào đầu quý, thị trường còn bị ảnh hưởng nặng bởi cuộc biểu tình kéo dài 3 tuần vào tháng trước, phản đối chính sách tăng thuế nhập khẩu đối với vàng. Điều này trái ngược với thực tế tại Trung Quốc, khi nhu cầu vàng tăng lên mức kỷ lục trong 3 tháng đầu năm nay.

Thanh Bình

Read More...

5 điều Fed đang "nói dối" người dân Mỹ

Như những gì bạn sẽ thấy sau bài viết này, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Ben Bernanke hết lần này đến lần khác đều đã tô hồng thực tế.
Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) mới đây thông báo rằng nền kinh tế đang ổn định trở lại. Fed nói rằng tỷ lệ thất nghiệp sẽ đi xuống, lạm phát vẫn sẽ được giữ ở mức thấp và tăng trưởng kinh tế sẽ tăng trưởng vững chắc trở lại. Bạn có thực sự tin họ những gì họ nói?

Tuy nhiên, các phương tiện truyền thông chính thống và nhiều người Mỹ dường như vẫn rất tin tưởng vào Cục Dữ trữ Liên bang. Dường như đó không phải là một vấn đề quan trọng trong những gì ông Bernanke và các quan chức Fed đã và đang nói với người dân Mỹ nhiều năm qua. Cũng dễ hiểu bởi hầu hết mọi người chỉ tin những gì mà họ muốn tin, và nhiều người dường như luôn tin tưởng một cách mù quáng vào Fed ngay cả khi những logic của lý trí có những lý lẽ riêng.

Sự thật là mọi thứ không thật sự trở nên tốt hơn những gì đang diễn ra trong hiện tại. Khi những con sóng tiếp theo từ sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính xảy đến, nền kinh tế Mỹ sẽ rơi vào suy thoái trở lại, thị trường tài chính sẽ sụp đổ và tỷ lệ thất nghiệp nhất đinh sẽ tăng vọt. Nhưng mọi người sẽ không bao giờ được nghe những điều đó từ Cục Dự trữ Liên bang.

Bạn đã bao giờ nghe nói về Robert Kiyosaki? Ông được biết đến với loạt sách "Cha giàu, cha ngèo" với hơn 26 triệu cuốn sách đã được bán trên toàn thế giới. Ông cũng là đồng tác giả với tỷ phú Donald Trump trong cuốn sách "Vì sao chúng tôi muốn bạn giàu". Robert Kiyosaki cũng được công nhận là một nhà đầu tư thành công, chuyên gia tài chính và một nhà đa triệu phú.

Mới đây, Robert Kiyosaki đã cùng nhóm chuyên gia của mình cảnh báo về một cuộc khủng hoảng kinh tế mới đang đến gần. Ông cũng chỉ ra 5 điều mà Cục Dữ trữ liên bang đang nói dối người dân Mỹ.

1 - Cục Dự trữ Liên bang nói rằng thị trường lao động đã được cải thiện và tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm đáng kể trong vài năm tới.

Sau đây là một trích dẫn từ các thông cáo báo chí của FOMC (Ủy ban thị trường mở) đã được ban hành gần đây ....

"Điều kiện thị trường lao động đã được cải thiện trong những tháng gần đây, tỷ lệ thất nghiệp đã giảm nhưng vẫn còn cao".

Cục Dự trữ Liên bang dự đoán rằng tỷ lệ thất nghiệp sẽ nằm trong khoảng 7,8% tới 8,0% vào cuối năm 2012. Và tỷ lệ thất nghiệp sẽ còn khoảng 6,7% tới 7,4% vào cuối năm 2012

Tuy nhiên, thực tế là: thị trường lao động đã không được cải thiện. Trong tháng 3 năm 2010, chỉ có 58,5% số người Mỹ trong độ tuổi lao động có việc làm. Chính xác là hai năm sau đó, tháng 3 năm 2012, vẫn là 58,5% số người Mỹ trong độ tuổi lao động có việc làm. Nếu thị trường lao động đã được cải thiện, tỷ lệ phần trăm số người Mỹ trong độ tuổi lao động có việc làm đã phải tăng lên.

Tỷ lệ thất nghiệp chính thức có thể giảm nhẹ trong ngắn hạn, nhưng sự thật là nó sẽ trở lại với hai con số một khi các cơn sóng tiếp theo của cuộc khủng hoảng tài chính quật lại chúng ta.

2 - Cục Dự trữ Liên bang nói rằng nền kinh tế Mỹ sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP vững chắc trong vài năm tới.

Tuy nhiên hiện Fed dự đoán rằng GDP của Mỹ sẽ tăng với một tốc độ hàng năm rơi vào khoảng 3,1% tới 3,6% vào cuối năm 2014.

Song thực tế là một trận đại hồng thủy kinh tế lớn đang đến gần ...: Trên khắp châu Âu, các chính phủ đã ngồi trên đống nợ nần chồng chất. Nhưng bất cứ khi nào họ cắt giảm chi tiêu công thì kết quả là một cuộc suy thoái kinh tế lại xảy ra. Các chính trị gia châu Âu đang bị kẹt trong một thế khó giữa một núi nợ nần chồng chất mà nếu họ tiếp tục cắt giảm chi tiêu chính phủ sẽ đẩy nền kinh tế rơi vào suy thoái sâu hơn và dân chúng càng trở nên phẫn nộ. Hy Lạp là một ví dụ hoàn hảo: chính phủ đã thực hiện một chính sách thắt lưng buộc bụng hà khắc nhưng nền kinh tế đang trải qua sự suy thoái toàn diện, bạo loạn xảy ra trên khắp đất nước.

Khi châu Âu trượt vào suy thoái, có nghĩa rằng sẽ gây áp lực nhiều hơn lên hệ thống tài chính châu Âu. Hầu hết ngưỡi Mỹ đã không nhận ra điều này, nhưng trên thực tế hệ thống các ngân hàng châu Âu lớn gần gấp bốn lần hệ thống ngân hàng Mỹ.

"Khi sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng châu Âu (và những gì sẽ xảy ra) nó sẽ ảnh hưởng trên toàn cầu. Tâm chấn của cuộc khủng hoảng tài chính lớn tiếp theo sẽ là ở châu Âu, và nó đang tiến gần hơn mỗi ngày "

 3 - Cục Dự trữ Liên bang nói rằng chúng ta có thể hy vọng tỷ lệ lạm phát thấp trong một thời gian dài nữa

Fed cũng dự đoán chính thức rằng tỷ lệ lạm phát hàng năm sẽ không vượt qúa 2% vào cuối năm 2012. Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang, ông Ben Bernanke đã nhiều lần củng cố cho dự báo này trong cuộc họp báo hôm thứ Tư tuần trước ....

"Chúng tôi hy vọng rằng, trong điều kiện không có những cú sốc mới trong lĩnh vực dầu, lạm phát trung bình sẽ khoảng 2% vào cuối năm nay."

Thực tế là Cục Dữ trữ Liên bang đã rất không trung thực, nếu lạm phát được đo lường một cách chính xác như cách nó đã được đo vào năm 1980, thì tỷ lệ lạm phát hàng năm sẽ là hơn 10% vào ngay lúc này. Đường màu xanh bên trên trong biểu đồ dưới đây cho thấy lạm phát thực tế hàng năm:

(Biểu đồ lạm phát thực tế và lạm phát của chính phủ. Nguồn: www.shadowstats.com)

Sự thật là hầu hết các gia đình tầng lớp trung lưu Mỹ hiểu rõ hơn ai hết rằng không hề có mức lạm phát thấp vào lúc này mỗi khi họ đi vào trạm xăng hay cửa hàng tạp hóa.

Vào giai đoạn bắt đầu của một cuộc suy thoái kinh tế, lạm phát sẽ có khả năng giảm xuống, nhưng điều này chỉ bởi vì các hoạt động kinh tế đã suy giảm đáng kể và sức mua cạn kiệt.

4- Cục Dự trữ Liên bang nói rằng họ đã xây dựng được một danh tiếng 30 năm để giữ lạm phát ở mức thấp

Ông Ben Bernanke đã thực sự rất "can đảm" trong các tuyên bố dưới đây tại cuộc họp báo mới đây....

"Chúng tôi, Cục Dự trữ Liên bang, đã trải qua 30 năm gữi gìn cho lạm phát ở mức thấp và ổn định, điều này là cực kỳ có ý nghĩa cho những gì mà chúng ta có thể hành động nhằm kích thích nền kinh tế trong năm năm qua."

Điều này có phải là sự thực?

Thực tế là: Fed đã có gần 100 năm danh tiếng để phá hủy giá trị của đồng đô la Mỹ. Ngay cả bằng cách sử dụng các con số "được thông báo chính thức" của Fed cũng cho thấy giá trị của đồng USD đã giảm hơn 95% kể từ năm 1900 như biểu đồ dưới đây: (Cột màu xanh biểu thị cho sức mua của đồng USD):


(Biểu đồ lạm phát giá tiêu dùng tại Mỹ từ 1900 – 2012. Nguồn: Credit Suisse)

Để hiểu sâu hơn về việc đồng USD đã bị phá hủy bởi FED trong những năm qua như thế nào, chỉ cần xem biểu đồ dưới đây:

(Biểu đồ sức mua của đồng USD. Nguồn: BLS)

5- Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang ông Ben Bernanke nói rằng mọi người nên tin tưởng ông ta, vì Fed sẵn sàng làm bất cứ điều gì là cần thiết để hỗ trợ nền kinh tế Mỹ

"Nếu cần thiết ... chúng tôi vẫn đang tích cực chuẩn bị để tăng cường các hành động bổ sung"

Nhưng thực tế là: chủ tịch Fed ông Ben Bernanke đang gây nguy hại rất lớn cho người dân Mỹ bởi đã không cảnh báo họ về một cuộc khủng hoảng rộng lớn đang đến gần. Giống như cuộc khủng hoảng vừa qua, một cuộc khủng hoảng tiếp theo sẽ tấn công bất ngờ hầu hết người dân Mỹ.

"Thật đáng buồn, như những gì xảy ra trong năm 2008, hầu hết mọi người sẽ không bao giờ nhìn thấy cuộc khủng hoảng tiếp theo đang sắp tới."

Vì vậy, bạn nên tin tưởng Cục Dự trữ Liên bang  Mỹ hoặc tin những gì bài viết này cảnh báo về "sự sụp đổ nghiêm trọng "đang đến gần.

Cuối cùng, thời gian sẽ có câu trả lời chính xác nhất.

Lưu Dung

Theo TTVN/RichdadWorld

Read More...

Ông Nguyễn Trần Bạt: Không có cơ sở cho con số 29.000 tỷ

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trần Bạt
Xung quanh gói giải pháp 29.000 tỷ đồng để giải cứu các doanh nghiệp, chuyên gia kinh tế Nguyễn Trần Bạt cho rằng việc không nên "thổi" câu chuyện 29.000 tỷ đồng này như một cứu cánh.
"Tôi xem báo chí rồi phương tiện truyền thông, truyền hình và rất nhiều người nói và thổi câu chuyện 29.000 tỷ đồng này như một cứu cánh. Tôi cho nhận thức như vậy trước hết là sai. Bởi nó không có cơ sở khoa học về mặt định lượng. 1% không cứu được bất kỳ cái gì. Nó là tiền cafe, tiền trà nước của một nền kinh tế, nó không phải là cứu cánh của một nền kinh tế"...

Xung quanh gói giải pháp 29.000 tỷ đồng để giải cứu các doanh nghiệp, chuyên gia kinh tế Nguyễn Trần Bạt cho rằng việc không nên "thổi" câu chuyện 29.000 tỷ đồng này như một cứu cánh. Việc ông quan tâm hàng đầu là khâu phân phối sự cứu trợ này ra sao.

Theo ông, gói cứu trợ là cần thiết, nó có thể có ích nếu như nó được thực hiện một cách chặt chẽ và có cơ sở khoa học.

Không có cơ sở khoa học cho con số 29.000 tỷ

PV: - Với hy vọng có thể thúc đẩy sản xuất kinh doanh, kích thích tăng trưởng của nền kinh tế đang gặp khó khăn, vừa qua Bộ Tài chính đã trình Chính phủ gói giải pháp 29.000 tỷ để giải cứu các doanh nghiệp. Là một chuyên gia kinh tế, ông nhận định như thế nào về gói giải pháp này của Chính phủ?

Ông Nguyễn Trần Bạt: - Tất cả các gói cứu trợ trong một chừng mực nào đó đều có ích cả. Nhưng sự có ích về mặt lý thuyết thôi, còn trên thực tế nó phải đi qua một khâu rất quan trọng đó là khâu phân phối sự cứu trợ này.

Chúng ta đã biết ở Việt Nam chúng ta có hàng bao nhiêu các gói cứu trợ như thế này. Từ cứu trợ tai họa thiên nhiên, có tính chất xã hội, có tính chất từ thiện cho đến những gói cứu trợ mà chúng ta đã từng gọi vào những năm 2008 - 2009 đó là kích cầu. Và bây giờ chúng ta có thêm gói cứu trợ nữa.

Trước hết, chúng ta phải bàn xem gói cứu trợ này nhắm đến đối tượng nào. Nếu như dành cho các đại công ty thì nó như voi nuốt thuốc gió thôi.

Nguyên số nợ của một tập đoàn đã lên tới 15 - 17.000 tỷ thì 29.000 tỷ không thấm tháp gì đối với hàng trăm ngàn doanh nghiệp. Vậy thì chúng ta đã có những phân tích, phân loại và đưa ra thiết kế quy trình phân phối sự cứu trợ này chưa?

Trên thực tế chúng ta phải thấy rằng nền kinh tế Việt Nam đã hình thành một khái niệm đó là các khu vực, các vùng kinh tế hay các nền kinh tế vùng.

Lâu nay chúng ta cũng đánh giá mức độ cạnh tranh của các tỉnh. Và do đó, chúng ta vô tình đã tạo ra sự thi đua giữa các vùng kinh tế hay nói cách khác chúng ta đã tạo ra tiền đề tâm lý, xã hội cũng như nhận thức các nền kinh tế vùng.

Vậy chúng ta cứu trợ theo vùng kinh tế hay là cách khác? Ví dụ chúng ta có các hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hiệp hội làng nghề... Chưa kể các hiệp hội doanh nghiệp trong lĩnh vực nghề nghiệp như hiệp hội thủy sản. Vậy thì chúng ta phân phối gói cứu trợ này theo vùng lãnh thổ như tôi nói hay theo các hiệp hội doanh nghiệp? Đó là điều mà Chính phủ có lẽ cần phải bàn rất kỹ.

Nếu chúng ta chỉ nói chung chung, ném ra một gói cứu trợ và thường đi qua các ngân hàng thì tôi thấy cần phải cẩn thận. Bởi các ngân hàng bây giờ đang có điều tiếng trong dư luận xã hội, ví dụ như mức tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng lên đến 50 – 60%, còn doanh nghiệp thì chết như ngả rạ, tức là thóc còn ở trong bồ mà người thì chết đói ở ngoài cửa.

Tiền là công cụ để khích lệ sản xuất nhưng tổ chức kinh doanh tiền tệ thì rất có lãi, trong khi tổ chức sử dụng tiền tệ để tạo thành công cụ phát triển thì chết hàng loạt.

Việc nghiên cứu tất cả những thực trạng xã hội như vậy để chúng ta đặt ra vấn đề là phân phối gói cứu trợ này như thế nào? Theo hình thức các vùng kinh tế hay theo hình thức dựa vào các hiệp hội doanh nghiệp?

Nói gì thì nói, dù sớm hay muộn nhưng nghĩ đến xã hội cũng là được rồi. Tuy nhiên, tôi chưa thấy rõ cơ sở khoa học của gói cứu trợ này. Vậy một gói cứu trợ bao nhiêu? Cho ai? Phân phối như thế nào? Ai giám sát quá trình phân phối sự cứu trợ này? Các hiệp hội hay các chính quyền địa phương? Hay chúng ta thả tiền vào trong các ngân hàng để cho các ngân hàng phân phối theo sự đánh giá chất lượng doanh nghiệp của các ngân hàng?

Gói cứu trợ nó là cần thiết, nó có thể có ích nếu như nó được thực hiện một cách chặt chẽ và có cơ sở khoa học.

PV: - Theo ông, gói cứu trợ 29.000 tỷ đồng cùng với chủ trương giãn thuế, giảm thuế mà cụ thể là giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế VAT từ quý 2 được giãn thêm 6 tháng liệu có thực sự vực dậy được các doanh nghiệp này không, thưa ông?

Ông Nguyễn Trần Bạt: - Chúng ta nên nhớ một điều chúng ta chỉ có 29.000 tỷ. Tức là chúng ta có khoảng 1,4 tỷ đô la cho một nền kinh tế vào khoảng 130 tỷ đô la. Như vậy, nó chỉ có 1% thôi. Chúng ta đừng đặt quá nhiều kỳ vọng và đấy.

Tôi xem báo chí rồi phương tiện truyền thông, truyền hình và rất nhiều người nói và thổi câu chuyện 29.000 tỷ đồng này như một câu chuyện để cứu cánh. Tôi cho nhận thức như vậy trước hết là sai. Bởi nó không có cơ sở khoa học về mặt định lượng. 1% không cứu được bất kỳ cái gì. Nó là tiền cafe, tiền trà nước của một nền kinh tế, nó không phải là cứu cánh của một nền kinh tế.

Chúng ta cứ tưởng rằng nếu chúng ta dồn vào một chỗ thì nó trở thành lớn của một vùng, một xí nghiệp. Nhưng không phải vậy, tiền nó khuếch tán rất nhanh. Cho nên trong một lượng tiền đo theo tiền bạc của một nền kinh tế như vậy thì 1,4 tỷ đô la có một hiệu ứng xã hội về mặt hiệu ứng kinh tế khá thấp.

Nó có thể có một hiệu ứng chính trị, nó như một tiếng vang vọng cho nhân dân thấy rằng Đảng và Chính phủ không bỏ quên doanh nghiệp. Cho nên khi sử dụng chúng ta phải làm thế nào để khuếch trương cả giá trị thực về mặt tiền bạc lẫn giá trị chính trị khác để cho nó có một hiệu quả tốt hơn.

Nếu như sử dụng cái đó không rành mạch, để cho một vài hiện tượng tiêu cực nho nhỏ ở trong đấy thì mọi hiệu quả kể cả kinh tế lẫn chính trị đều biến mất, thậm chí còn có hại.

Báo chí làm thế nào để xã hội không đặt quá nhiều kỳ vọng vào khoảng 1% GDP của một quốc gia. Như thế có nghĩa là Chính phủ chúng ta nghèo, muốn cứu trợ cả một cộng đồng doanh nghiệp như vậy mà chỉ có 29.000 tỷ.

Do đó, chúng ta phải sử dụng nó một cách nghiêm túc để hy vọng rằng ngoài những lợi ích kinh tế cụ thể, trong một giới hạn vừa phải nó được kết hợp với những giá trị chính trị xã hội khác như là một nguồn động viên của Nhà nước đối với các lực lượng kinh doanh.

PV: - Vậy việc giãn thuế, giảm thuế đó có thực sự là biện pháp cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp?

Ông Nguyễn Trần Bạt: - Bây giờ phải nói như thế này: những doanh nghiệp nào còn đóng thuế thì sự miễn thuế mới có giá trị, còn với những doanh nghiệp không còn năng lực để đóng thuế (tức là trên thực tế nó không kinh doanh) thì miễn thuế hay giảm thuế không có giá trị gì, vì đằng nào họ cũng không đóng. Còn những doanh nghiệp vẫn còn đóng thuế thì phải đánh giá xem tại sao nó đóng được thuế trong điều kiện kinh tế như thế này.

Để đánh giá được năng lực đóng thuế của một doanh nghiệp là một vấn đề kỹ thuật tác nghiệp hoàn toàn không dễ dàng gì đối với cơ quan quản lý thuế. Ví dụ những đại công ty nợ tới gần 200 tỷ tiền thuế, cái đó được xếp vào diện giãn thuế hay giảm thuế?

Đánh giá các doanh nghiệp để ứng dụng chính sách này như là một sự cứu trợ là việc rất khó. Nhiệm vụ của các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành trong lĩnh vực này hoàn toàn không dễ dàng. Nó cũng tiềm ẩn những rủi ro móc ngoặc, tham nhũng hoàn toàn không bé một chút nào.

Vì thế phải rất thận trọng, không thì thiện chí lại trở thành đối tượng để các dư luận truyền thông chế giễu.

Tôi nghĩ rằng giãn thuế mà chỉ khóa trong lĩnh vực giá trị gia tăng thì cũng tạm được. Bởi thuế giá trị gia tăng là thu của khách hàng trước.

Giãn thuế giá trị gia tăng tức là hỗ trợ các doanh nghiệp chiếm dụng thêm một thời gian 6 tháng nguồn thuế đã được thu trong các kinh doanh của mình.

Nhưng liệu việc này có gieo ra một thói quen không tích cực không? Nếu làm một cách đại trà thì có phải là 12.000 nghìn tỷ như quy định của gói cứu trợ không, hay nó sẽ tự động phát triển đối tượng này rộng hơn? Bởi coi số 12.000 tỷ trong vòng 6 tháng là con số hoàn toàn quan liêu. Nó không phải là con số thực.

Liệu thực tế không thu được thật hay thực tế trì hoãn thật ấy có phải là 12.000 nghìn tỷ không, nếu các lực lượng tham gia vào đây cứ thế phát triển một cách âm ỉ mà chính phủ không kiểm soát nổi?

Thứ hai, việc cho phép chiếm dụng vốn một thời gian liệu có huấn luyện một thói quen chiếm dụng vốn lâu dài không? Đôi khi để quảng bá tính nhân bản của một chính sách mà chúng ta lại huấn luyện xã hội một thói xấu thì sao? Tôi nghĩ rằng mọi việc cần phải suy nghĩ kỹ hơn, và có lẽ các cơ quan chức năng của Chính phủ cần phải phân tích việc này một cách chuyên nghiệp hơn.

 Chính phủ đưa tiền thì Chính phủ phải xem giỏ bỏ thóc, đấy là quyền của Chính phủ, chúng ta không được can thiệp. Không phải là anh buộc phải cứu tôi vì anh không cứu tôi thì tôi chết, không có chuyện đấy.
"Chính phủ đưa tiền thì Chính phủ phải xem giỏ bỏ thóc, đấy là quyền của Chính phủ, chúng ta không được can thiệp. Không phải là anh buộc phải cứu tôi vì anh không cứu tôi thì tôi chết, không có chuyện đấy"...

Tiền không đến được các xí nghiệp một cách chắc chắn, các ngân hàng sẽ ngộ độc tiền

PV: - Xem ra gói cứu trợ này chỉ có giá trị trước mắt, còn về lâu dài cũng không có giá trị gì, thưa ông?

Ông Nguyễn Trần Bạt: - Một nền kinh tế mà Chính phủ luôn luôn phải cứu trợ là nền kinh tế vứt đi. Một nền kinh tế là lực lượng cơ bản để cứu trợ Chính phủ chứ không phải Chính phủ phải cứu trợ nó, bởi toàn bộ ngân sách được thu từ sự phát triển hay từ thực tế kinh doanh của nền kinh tế.

Bây giờ nếu chúng ta quảng bá vai trò của gói cứu trợ quá mức thì đồng thời chúng ta cũng quảng bá sự nguy hiểm của nền kinh tế.

Hiện nay, tôi thấy báo chí đang làm ầm ĩ câu chuyện 29.000 tỷ này mà quên mất rằng trong khi biểu dương Chính phủ để có 29.000 tỷ cứu trợ thì chúng ta cũng làm một việc song song là bố cáo với thiên hạ rằng nền kinh tế của chúng ta là nền kinh tế kém đến mức đang được Chính phủ cứu trợ.

Tôi không hiểu biểu dương tính nhân bản, tính lương thiện, tính nhân dân của Chính phủ quan trọng hơn hay biểu dương sự lành mạnh, sức khỏe của một nền kinh tế quan trọng hơn? Ngay cả cơ quan tuyên huấn hay các phương tiện truyền thông cũng phải lưu ý cân đối liều lượng như thế nào để người ta vỗ tay cho gói cứu trợ, nhưng không tố cáo tính chất tiêu cực của một nền kinh tế.

PV: - Vậy thì, theo ông đâu là biện pháp lâu dài thực sự cần cho nền kinh tế, cho các doanh nghiệp đang gặp khó khăn này?

Ông Nguyễn Trần Bạt: - Tôi nghĩ thực ra là chính sách. Hiện nay song song với gói cứu trợ 29 nghìn tỷ này có một quyết định của Ngân hàng Nhà nước về việc giới hạn trần lãi suất cho vay là 15% cũng đang được truyền bá rất ầm ĩ. Việc hạ lãi suất cho vay trên thực tế khoảng 20 – 30% xuống 15% là một cố gắng khổng lồ của cả Chính phủ lẫn Ngân hàng Nhà nước.

Nhưng truyền bá, bố cáo, tuyên truyền quá rộng rãi về chuyện này đã làm tố giác một thực tế là ở Việt Nam đồng tiền cho vay đã được Nhà nước kiểm soát rồi mà nó vẫn còn 15%/ năm. Và lãi suất của đồng Việt Nam, mặc dù được được kiểm soát và được hạn chế vẫn là lãi suất cao nhất trong tất cả các đồng tiền có mặt trong nền kinh tế thế giới.

Chúng ta buộc phải buôn bán với nhân loại, cho nên thương nhân Việt Nam trong khi phải gánh tiền lãi tới 15% thì không khỏe khoắn, bình đẳng so với bất kỳ thương nhân nước nào trên thế giới này.

Tất nhiên nói như thế không phải là đưa ra con số 15% là không tích cực. Đấy là cả một sự tích cực, sự cố gắng từ phía Chính phủ, từ phía Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, đấy là một nỗi đau khổ, một sự cố gắng cần giấu kín hơn là cần tuyên truyền.

Hiện nay, chúng ta tuyên truyền quá to, quá rộng rãi về chuyện này, nó tố cáo với các nền kinh tế khác trên thế giới rằng gánh nặng lãi suất của đồng tiền Việt Nam làm cho lưng của các thương nhân Việt Nam gù đi.

PV: - Ông có cho rằng Chính phủ cần có biện pháp giải quyết nợ xấu của doanh nghiệp và hoàn thế lại cho các doanh nghiệp như một vài ý kiến đã nêu?

Ông Nguyễn Trần Bạt: - Nhiều người phát biểu là cần giải quyết vấn đề nợ xấu để cứu trợ các doanh nghiệp, đấy là một tham vọng rất thiếu thực tế. Trong một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thì tốc độ quay của tiền quy định tài năng quản trị của các doanh nghiệp.

Một doanh nghiệp mà không trả được nợ thì cái đối tượng cho nó vay là ngân hàng sẽ trở thành một đối tượng tiêu cực. Nợ xấu là tai họa của các ngân hàng.

Thế nhưng tại sao lại có nợ xấu? Bởi vì chúng ta kinh doanh không được. Nền kinh tế của chúng ta là một nền kinh tế hoàn toàn lệ thuộc vào xuất nhập khẩu. Chúng ta không có công nghiệp nguyên liệu cho nên chúng ta phải nhập.

Chúng ta không có công nghiệp linh kiện, phụ kiện nên chúng ta cũng phải nhập. Và nếu không cẩn thận đến cái kim chúng ta cũng phải nhập. Do đó chúng ta lệ thuộc vào cả xuất lẫn nhập.

Do sự trì trệ của nền kinh tế thế giới nên giá hàng nhập đắt lên. Bởi vì không có lời người ta không làm, không làm thì khan hiếm, cho nên hàng nhập vào đắt, hàng bán ra thì không bán được vì người ta không mua. Hầu hết các thị trường xuất khẩu của chúng ta đều có vấn đề về kinh tế cả.

Tôi tiên lượng là phải đến giữa năm 2014 nền kinh tế thế giới mới bắt đầu có những dấu hiệu tích cực. Từ giờ cho đến lúc ấy nền kinh tế của chúng ta vẫn tiếp tục có vấn đề. Nền kinh tế của chúng ta có vấn đề thì không những chúng ta không giải quyết được nợ xấu hiện có mà sẽ tiếp tục có thêm nợ xấu.

Nợ xấu sẽ phát triển. Lý do rất đơn giản là chẳng lẽ chúng ta giải tán hết các xí nghiệp, đóng cửa hết các công ty? Chúng ta vẫn phải tiếp tục sản xuất kinh doanh trong những điều kiện không bán được hàng. Hệ số tồn kho bây giờ càng ngày càng tăng, mà tồn kho lớn nhất là bất động sản. Không muốn chết thì chúng ta phải làm, lỗ cũng phải làm, mà lỗ nhiều thì nợ xấu tăng thêm.

Tôi nghe nói có một số chuyên gia phát biểu là Chính phủ phải bỏ tiền ra mua nợ xấu, và phải giải quyết vấn đề nợ xấu. Cách nói như thế hoàn toàn không phù hợp với điều kiện Việt Nam. Không có cách gì Chính phủ chúng ta có thể giải quyết vấn đề nợ xấu cả.

Nếu Chính phủ ngăn chặn được nợ xấu phát triển trong một vài năm sắp tới đã là giỏi lắm rồi. Đưa ra những lời kêu gọi hay sự đánh giá không khoa học là dồn Chính phủ vào chỗ khó, bởi Chính phủ không có cách nào để giải quyết vấn đề nợ xấu trong một vài năm tới. Đấy là quan niệm của tôi.

Tiền mà không đến được các xí nghiệp một cách chắc chắn thì các ngân hàng sẽ ngộ độc tiền. Chúng ta buộc phải đánh giá thực tế như thế, và nhiệm vụ của Chính phủ không phải là khắc phục triệt để các hiện tượng tiêu cực mà là hạn chế sự phát triển của các tiêu cực.

Trong một vài năm tới, tài ba nhất thì Chính phủ cũng chỉ có thể hạn chế sự phát triển các mặt tiêu cực chứ không phải là quét sạch các mặt tiêu cực.

PV: - Vậy còn việc hoàn lại thuế cho các doanh nghiệp thì sao, thưa ông?

Ông Nguyễn Trần Bạt: - Tôi nghĩ là Chính phủ tài đến đâu thì làm đến đấy, có dự trữ đến đâu thì làm đến đấy, nhưng tôi nghĩ là chuyện này phải rất cẩn thận. Hoàn thuế là xuất kho tiền, mà xuất kho tiền là gắn liền với các thao túng, mà thao túng thì luôn dẫn đến mất uy tín chính trị của Đảng và Nhà nước. Việc ấy phải thận trọng, không phải khía cạnh tiền mà khía cạnh chính trị.

PV: - Theo ông, những đối tượng doanh nghiệp nào thì cần phải cứu trợ trong gói cứu trợ này?

Ông Nguyễn Trần Bạt: - Tôi sẽ không phát biểu về chuyện này, lý do rất đơn giản là nói gì thì nói, Chính phủ là người phải bảo vệ quyền lợi xã hội và tài sản xã hội trong tất cả các hoạt động quản lý của mình. Cho nên cứu cái gì để có lợi cho xã hội nhất là quyền định nghĩa của Chính phủ.

Chính phủ đưa tiền thì Chính phủ phải xem giỏ bỏ thóc, đấy là quyền của Chính phủ, chúng ta không được can thiệp. Không phải là anh buộc phải cứu tôi vì anh không cứu tôi thì tôi chết, không có chuyện đấy.

Chính phủ bỏ tiền ra để mua một tương lai tốt cho nền kinh tế Việt Nam chứ không phải mua tương lai cho một xí nghiệp cụ thể nào cả. Tất cả những ai chê trách Chính phủ là tôi chết mà anh không cứu là vô lý.

Chính phủ cứu một nền kinh tế chứ không cứu một xí nghiệp, nhưng để cứu một nền kinh tế thì Chính phủ buộc phải đi qua con đường cứu một số xí nghiệp.

Vậy chọn xí nghiệp nào là toàn quyền quyết định của Chính phủ, dựa vào sự tham khảo hai trục mà tôi vừa nói, là quản trị theo hiệp hội theo vùng địa phương, hay là quản trị theo các hiệp hội doanh nghiệp là tùy Chính phủ. Nhưng cái đấy cũng chỉ là đối tượng tham khảo để cho chính sách gần với cuộc sống, còn cứu trợ ai vẫn là quyền quyết định của Chính phủ.

Tuy nhiên, điều cần nói ở đây là Chính phủ không được quên cứu trợ không phải là thiện chí chính trị, mà là một công nghệ và phải giám sát quá trình cứu trợ. Không nên để xảy ra tình trạng chúng ta đến ngõ nào, phố nào cũng thấy ca ngợi Chính phủ tốt bụng cho mình tiền.

Tôi đã bắt đầu thấy ở trên ti vi có một số công ty đã ca ngợi rồi. Tôi xin lỗi là những con kền kền ấy mà đã bắt đầu mở miệng thì Chính phủ phải coi chừng sờ nắp túi mình xem nó đã bật ra chưa?

Chúng ta không được quên cứu trợ là một công nghệ tài chính có tiêu chuẩn phổ biến toàn cầu, hoàn toàn không phải là hoạt động từ thiện. Cứu trợ không phải là hoạt động chính trị. Nó có ý nghĩa chính trị chứ không phải là hoạt động chính trị, mà là hoạt động thuần túy tài chính.

Cứu trợ không phải là thiện chí chính trị, mà là một công nghệ và phải giám sát

PV: - Thưa ông, ông có nghĩ rằng số tiền 29.000 tỉ đồng này sẽ cứu được những doanh nghiệp mấp mé bên bờ vực phá sản không?

Ông Nguyễn Trần Bạt: - Tôi nghĩ rằng các doanh nghiệp mấp mé bên bờ vực phá sản không phải do thiếu tiền, mà nó mất tiền, bởi vì nếu thiếu tiền thì đã không kinh doanh.

Vấn đề phải đặt ra là liệu có mất nữa không? Cho nên xưa nay cứu trợ luôn luôn gắn liền với tái cấu trúc các doanh nghiệp cụ thể. Người ta cứu trợ luôn kèm điều kiện.

Giống như cộng đồng châu Âu cứu trợ Hy Lạp là kèm theo điều kiện phải thắt chặt chi tiêu. Tức là Chính phủ ấy mất đi quyền độc lập quốc gia của mình trong lĩnh vực tài chính, trong lĩnh vực chi tiêu công.

Tôi sợ rằng việc vung vãi tiền bạc như một biểu hiện của sự nhân văn, thương người, cứu trợ mà không tuân thủ các công nghệ tài chính liên quan đến hoạt động cứu trợ, có thể dẫn Chính phủ chúng ta đến chỗ mất tiền và mất cả uy tín nữa, vì chúng ta không hiểu được bản chất của khái niệm cứu trợ.

PV: - Thưa ông, ông có quan ngại rằng số tiền 29.000 tỷ này nó sẽ đi đến những doanh nghiệp không cần cứu, hoặc đi đến những doanh nghiệp đã chết rồi không cần cứu không?

Ông Nguyễn Trần Bạt: - Trong cuộc sống chúng ta vẫn hay gặp những trường hợp người chết rồi mà người ta vẫn khai còn sống để lĩnh lương.

Ngày xưa trong chính quyền Việt Nam cộng hòa, có liệt sĩ vẫn được lĩnh lương. Ở Mỹ người ta phải tìm những người mất tích ở chiến trường để khóa sự việc lại và để Chính phủ không phải tiếp tục chi tiền cho những người không xác định được là đã chết một cách hợp pháp.

Vậy Chính phủ phải xem trong ngần ấy doanh nghiệp thì cái nào là liệt sĩ rồi, cái nào đang ngắc ngoải, và trong đống ngắc ngoải ấy, cái nào thức dậy thì có lợi cho xã hội, còn cái nào ngủ tiếp cũng được, không sao cả. Chính phủ tuyệt đối không được nghĩ đây là thiện chí của Chính phủ, mà Chính phủ đang bỏ tiền ra để cứu một nền kinh tế.

PV: - Đấy chính là giải pháp mà số tiền 29.000 tỷ đồng này đến được nơi cần cứu?

Ông Nguyễn Trần Bạt: - Tôi nói lại là đến nơi nào thì không biết được, và chúng ta đừng hy vọng chúng ta biết được. Chúng ta chỉ trích bằng những tin đồn là không được. Chính phủ chịu trách nhiệm trọn vẹn và toàn diện việc triển khai gói cứu trợ này để cứu nền kinh tế của chúng ta, các xí nghiệp không được cứu trực tiếp thì sẽ được hưởng cái lợi gián tiếp do nền kinh tế ấy không chết.

Nên nhớ rằng mọi xí nghiệp đều có thể chết theo một nền kinh tế, cho nên thành tích của Chính phủ là cứu một nền kinh tế. Cứu một nền kinh tế tức là ngăn chặn sự chết theo của các công ty khi nền kinh tế ấy chết.

PV: - Thưa ông, sắp tới Quốc hội có xem xét gói 29.000 tỷ này, vậy với cá nhân mình, ông mong chờ gì từ cuộc nghị sự này?

Ông Nguyễn Trần Bạt: - Quốc hội phải làm đúng nghĩa vụ của mình, Quốc hội phải giám sát tất bởi vì đây là tài sản của nhân dân. Một Nhà nước tự bản thân nó không có tài sản. Nhà nước là đại diện để quản lý các sở hữu của nhân dân.

Cho nên, Nhà nước chúng ta mặc dù không phân lập như Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói khi khai mạc hội nghị Trung ương V, nhưng các nhánh quyền lực cũng không trốn được trách nhiệm của mình. Nhánh quyền lực của Quốc hội thay mặt nhân dân giám sát tất cả sự lưu chuyển các dòng tài sản của xã hội.

Tôi hoan nghênh Quốc hội nếu Quốc hội giám sát tốt được chuyện ấy. Nên nhớ rằng Quốc hội có thể giám sát và Quốc hội có thể hợp thức hóa, do đó Quốc hội cần cố gắng để không hợp thức hóa những mặt tiêu cực và giám sát để hạn chế các mặt tiêu cực và khích lệ các mặt tích cực. Tôi hoan nghênh chuyện ấy, hoan nghênh phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.

Vào khoảng 6 tháng nay chúng ta thấy mọi cơ chế kiểm tra, kiểm soát đều tiến công một cách không thương tiếc vào các doanh nghiệp Nhà nước. Sự tố giác những vấn đề tiêu cực diễn ra trong một vài tập đoàn Nhà nước, từ Vinalines, cho đến PVN, cho đến EVN, VNPT thể hiện một thái độ thức tỉnh của hệ thống chính quyền Nhà nước chúng ta đang diễn ra, đã diễn ra ở trong các doanh nghiệp Nhà nước.

Chúng ta phải bắt rận chứ không giết các con kinh công ấy được. Bây giờ chúng ta bắt không được rận mà làm cho nó lăn quay ra chết chẳng hạn, thì tai họa còn khủng khiếp hơn. Rất nhiều người không đồng ý với tôi, rất nhiều người muốn giết chết các con vật gây bệnh, nhưng tôi thì không. Tôi thuộc vào nhóm những người muốn chữa bệnh cho các thực thể.

Còn việc chúng ta cường điệu vai trò của các tập đoàn kinh tế Nhà nước thì đấy thuộc vấn đề lý luận, hiện nay phải nói rằng sự thức tỉnh về mặt này rất hạn chế. Tuy nhiên, thức tỉnh những vấn đề lý luận đòi hỏi thời gian nhiều hơn, vì nó đòi hỏi một số thực tiễn thất bại để có thể rút ra kết luận được.

Và không chỉ hiểu biết về sự thất bại đâu mà còn phải nghĩ ra các phương pháp để thay thế. Không có các tập đoàn nhà nước thì Đảng này, Nhà nước này thay nó bằng gì, bây giờ chưa tìm được. Với năng lực của xã hội như hiện nay thì các công ty tư nhân có trở thành đại gia được giống như các tập đoàn Nhà nước không?

Chưa chắc. Khi sờ đến các đại gia có màu sắc tư nhân là lập tức chúng ta thấy nườm nượp tất cả các tín dụng và tài sản Nhà nước ở trong đấy. Như vậy, nó chỉ gọi là tập đoàn tư nhân, còn thực chất nguồn sống của nó, máu của nó vẫn là chế tạo tại chính phủ CHXHCN Việt Nam, vẫn là tài sản quốc gia.

- Xin cảm ơn ông!

Hiện đại hóa trụ sở là "đòi hỏi" phi kinh tế!

Ngoài gói 29.000 tỷ đồng, chi tiêu công cũng là một trong những 5 nhóm giải pháp được Bộ Tài chính nhắc tới trong chủ trương giải cứu các doanh nghiệp lần này.

Tuy nhiên, theo như ông Nguyễn Trần Bạt đánh giá: "Chỉ nguyên một câu chuyện Vinashin thôi là chúng ta có thể kết luận được các bệnh tương tự ở trên các thực thể tương tự.

Cái này tôi nói nhiều rồi, xã hội nói nhiều rồi tôi cũng không muốn nói thêm. Kể cả câu chuyện đề xuất của Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải về hơn 200 nghìn tỷ đồng, thiên hạ cũng nói nhiều rồi, tôi cũng không muốn nói thêm nữa, tôi chỉ xác nhận rằng họ nói có lý".

PV: - Ông có thể phân tích cụ thể hơn về điều này, thưa ông?

Ông Nguyễn Trần Bạt: - Một Bộ trưởng phụ trách một Bộ kinh tế không thể nào đưa ra các đòi hỏi phi kinh tế được. Đòi hỏi như thế là phi kinh tế.

Chúng ta có khoảng 20 Bộ trưởng, mỗi một Bộ trưởng đưa một gói đề xuất như thế thì Chính phủ trở thành một bà u già không còn sữa mà con thì vẫn nhao nhao đòi bú.

Chính phủ chúng ta không chỉ có các đứa con là Bộ mà 64 tỉnh thành cũng là những đứa con thật sự của Chính phủ. Giả sử bình quân mỗi một tỉnh hoặc một Bộ đề xuất cho Thủ tướng Chính phủ một yêu cầu để tái cấu trúc lại Bộ hoặc tỉnh của mình khoảng độ 50% so với đề xuất của Bộ GTVT.

Tức là, khoảng 100 ngàn tỷ, thì với 64 tỉnh thành cộng với 22 Bộ là gần 100 cơ cấu, Thủ tướng của chúng ta lấy đâu ra để đáp ứng.

Cái cần rút kinh nghiệm ở đây là tất cả các Bộ trưởng và Tỉnh trưởng khi đưa ra các đòi hỏi đầu tư đối với Nhà nước thì phải cân đối tiềm năng của một Chính phủ và phải cân đối với tiềm năng của một nền kinh tế.

Bởi vì để làm Bộ trưởng mà không hiểu Chính phủ của mình thì không làm được, và để làm thành viên của nội các mà không hiểu năng lực của nền kinh tế của đất nước mình thì cũng không làm được. Đã không làm được thì mọi đề xuất đều không có giá trị.

Theo Huyền Biển
Phunutoday
Read More...
 
Copyright (c) 2012 Phong NCKT
Designed by : PTA